Bài viết

sotret_nhi_dong2

Bệnh nhân đầu tiên tử vong do mắc sốt rét ở Bình Phước

Sở Y tế tỉnh Bình Phước đã ghi nhận ca tử vong đầu tiên do mắc sốt rét kể từ đầu năm 2017.

Theo Sở Y tế tỉnh Bình Phước, từ đầu năm đến nay, tỉnh ghi nhận 978 ca mắc sốt rét và một ca tử vong. Dịch sốt rét tập trung ở trẻ em từ 5 đến 15 tuổi. Trong đó, huyện Bù Gia Mập là địa phương có số ca mắc cao nhất với 500 ca, nhiều nhất là ở các xã vùng sâu vùng xa như Đắk Ơ, Bù Gia Mập, Đắk Nhau.

Hiện, ngành y tế Bình Phước triển khai phun thuốc diệt muỗi tại các điểm có nguy cơ bùng phát sốt rét và phác đồ điều trị cho các đối tượng nguy cơ mắc bệnh tại hai xã Đắk Ơ và Bù Gia Mập.

Benh nhan dau tien tu vong do mac sot ret o Binh Phuoc hinh anh 1

Bệnh nhi mắc sốt rét từ Bình Phước nhập viện Nhi đồng 2 (TP. HCM). Ảnh: bệnh viện cung cấp

Thời tiết mưa nhiều, kéo dài nên dịch sốt rét đang bùng phát nhanh tại tỉnh Bình Phước và có nguy cơ lan rộng thành dịch. Chính vì thế, tỉnh Bình Phước đề nghị Bộ Y tế thành lập đoàn công tác giám sát diễn biến sốt rét để tránh dịch bệnh lan rộng.

Trước đó, hai bệnh viện Nhi đồng 2 và Nhi đồng 1 đã tiếp nhận bốn trẻ mắc sốt rét đến từ Bình Phước, Đắk Nông, trong tình trạng sốt kéo dài, tiêu chảy, thiếu máu, da xanh xao, lạnh run. Qua xét nghiệm, các bác sĩ phát hiện các bé mắc sốt rét trong khi trước đó tại địa phương bác sĩ chẩn đoán bé sốt siêu vi.

Bác sĩ Lê Hải Lợi, khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM), cho biết giai đoạn đầu sốt rét dễ nhầm với cảm sốt thông thường và chỉ có phết máu ngoại biên, soi dưới kính hiển vi mới tìm được ký sinh trùng. Bệnh kéo dài có thể dẫn đến tử vong do thiếu máu nặng bởi ký sinh trùng sốt rét gây tán huyết.

Bác sĩ khuyến cáo người dân sống trong vùng sốt rét lưu hành khi có biểu hiện sốt kéo dài cần nghĩ đến bệnh lý này và đi khám kết hợp xét nghiệm máu để được điều trị kịp thời.

Theo Phú Mỹ ( news.zing.vn )

bien-chung-khung-khiep-cua-benh-viem-nao-nhat-ban

Viêm não Nhật Bản: hiểu, phòng bệnh tránh tử vong cho trẻ

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban

Bệnh viêm não Nhật Bản là tình trạng nhiễm virus cấp tính, làm tổn thương hệ thần kinh trung ương. Bệnh này thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi. Bệnh gây nên do virus viêm não Nhật Bản.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-2

Bệnh được phát hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản với biểu hiện viêm não – màng não tuỷ, nhiều người mắc, tử vong rất cao.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-3

Ở nước ta, bệnh viêm não Nhật Bản hoành hành theo mùa. Bệnh thường bùng phát từ tháng 4 đến tháng 10 là thời điểm mùa hè, mưa nhiều ở miền Bắc. Đỉnh điểm của dịch thường vào các tháng 6, 7 hàng năm.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-4

Bệnh viêm não Nhật Bản lây theo đường máu, do muỗi đốt hút máu động vật nhiễm virus, sau đó đốt người lành và truyền virus cho người. Virus được truyền qua vết đốt của muỗi cái, từ tuyến nước bọt có chứa virus.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-5

Sau khi virus từ muỗi được truyền sang con người, các hạt virus nhân lên dưới da, sau đó di chuyển dần vào máu và gây bệnh. Muỗi cái bị nhiễm virus viêm não Nhật Bản có khả năng truyền bệnh suốt đời, và có thể truyền virus sang thế hệ sau qua trứng.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-6

Bệnh viêm não Nhật Bản không thể lây trực tiếp từ người sang người. Ăn uống chung, dùng chung đồ dùng, tiếp xúc gần gũi với người bệnh không làm lây bệnh.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-7

Trẻ bị nhiễm virus viêm não Nhật Bản sau 4-8 ngày ủ bệnh sẽ có các triệu chứng giống cảm cúm, biểu hiện: sốt nhẹ, sổ mũi, tiêu chảy, run, nhức đầu, nôn mửa… một số trẻ có thể có rối loạn tâm lý. Trẻ em nhiễm virus thường kém ăn. Trong trường hợp nặng, trẻ có thể bị co giật, động kinh, sốt cao 39-40 độ C.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-8

Virus viêm não Nhật Bản tấn công tới hệ thần kinh trung ương gây sung huyết, phù nề và xuất huyết vi thể ở não. Nó có thể huỷ hoại tế bào thần kinh, thoái hoá tổ chức não, viêm tắc mạch; chủ yếu xảy ra ở vùng chất xám, não giữa và thân não dẫn đến hội chứng não cấp.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-9

Sau 2-3 ngày tới 1 tuần chưa phát hiện ra bệnh, trẻ có thể bị rối loạn ý thức, sốt cao, nôn mửa, cứng gáy, mê sảng, ảo giác, co giật, động kinh, rối loạn nhịp thở, hôn mê, diễn tiến bệnh sẽ ngày càng nặng và có thể dẫn đến tử vong.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-10

Nếu có các dấu nghi ngờ trẻ có dấu hiệu trên phải được nhập viện càng sớm càng tốt để phát hiện sớm bệnh, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-11

Theo thống kê có khoảng 30% bệnh nhân viêm não Nhật Bản nhập viện bị tử vong. Trong những bé sống sót thì 30-45% số trẻ bị các di chứng thần kinh và tâm thần nặng nề.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-12

Những trẻ phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời thì bệnh sẽ giảm dần và khỏi hẳn ít gặp di chứng.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-13

Mặc dù cực kỳ nguy hiểm nhưng bệnh viêm não Nhật Bản hoàn toàn có thể phòng được. Khi đi ngủ cần ngủ màn, sử dụng các loại thuốc xịt thảo dược ngoài da chống muỗi đốt, gắn lưới chống muỗi cho tất cả các cửa nhà, cửa sổ. Khi sinh hoạt bên ngoài vào ban đêm, phải mặc quần áo dài, đi tất. Cần thông quang hoặc lấp các cống rãnh, ao vũng tù đọng quanh nhà để hạn chế muỗi sinh sôi.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-14

Việc đặc biệt quan trọng cần làm là đưa trẻ đi tiêm vacxin phòng viêm não Nhật Bản để ngừa bệnh.

Nguồn: kienthuc.net.vn

 

Bệnh-Sốt-rét-là-gì-và-bệnh-sốt-rét-khiến-người-chết-hàng-loạt-như-thế-nào-8

Những nhân vật lịch sử tử vong do ký sinh trùng sốt rét

Cái chết của Alexander Đại Đế

Có nhiều giả thiết đồn đoán rằng cái chết của Alexander Đại Đế cũng là do đại dịch sốt rét gây ra. Alexander Đại Đế là một ông vua lừng danh thời cổ đại, người chinh phục vùng đất Hy Lạp, Ai Cập, Châu Á, nhưng lại chịu cái chết nhiều bí ẩn ở tuổi 32.

Các nhà khoa học ngày nay vẫn thắc mắc về cái chết đầy bí ẩn của vị vua nổi tiếng này. Theo các tài liệu ghi chép lại, Alexander sau một đêm uống rượu say mèm đã bị sốt cao, nằm hôn mê trong suốt 12 ngày rồi mới chết.

Theo tấm đá đặt trong Viện Bảo Tàng Anh Quốc có ghi rằng Đại Đế Alexander chết vào ngày 11 tháng Sáu, năm 323 trước Công nguyên. Cái chết của Đại Đế Alexander được ghi nhận rằng: “Có những đám mây bao phủ và chẳng mấy chốc sau đó, nhà vua băng hà”.

Bệnh Sốt rét là gì và bệnh sốt rét khiến người chết hàng loạt như thế nào

Bệnh Sốt rét là gì và bệnh sốt rét khiến người chết hàng loạt như thế nào: Có nhiều nguyên nhân chứng tỏ cái chết của vị hoàng đế anh tài này là do ký sinh trùng sốt rét gây ra

Không một ai vào thời đó biết chuyện gì xảy ra cho ông vua này, họ chỉ biết rằng trước khi chết Alexander Đại Đế đã uống rượu đến mức say mèm. Tuy nhiên có một câu hỏi được đặt ra tại sao ông vua này nằm mê man suốt 12 ngày rồi mới chết?

Điều chúng ta ngày nay biết được là sau những năm chiến trận gian khổ, Alexander chết ở Babylon, thành phố lớn và quan trọng của vùng Mesopotamia, hiện nay là nước Iraq, và Alexander không bị đâm hoặc bị tấn công bởi kẻ thù mà sau một đêm uống rượu say mèm với những bạn hữu của ông ta, đã bị sốt cao và nằm mê man như vậy trong suốt 12 ngày rồi mới chết. Giả thiết vị vua tài ba này chết do dịch sốt rét được đặt ra với câu hỏi tại sao ông lại sốt suốt 12 ngày? Tiến sĩ John Marr, giám đốc  của Viện dịch tễ học, của Nha Y tế Richmond, thuộc tiểu bang Virginia, giải thích chỉ có một dạng bệnh khiến con người chết dễ dàng đó là bệnh sốt rét xảy ra trong khu vực, sốt rét với những phản ứng của nó mới làm một người chết mau như vậy. Cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào lý giải được nguyên nhân dẫn đến cái chết của vị hoàng đến này, và đây mãi mãi là một bí ẩn.

Cái chết của Hoàng đế  thiếu niên Tutankhamun

Bệnh sốt rét và bệnh xương là nguyên nhân dẫn đến các chết của vị hoàng đế trẻ này. Năm 1922, nhà Ai Cập học người Anh Howard Carter cùng với huân tước Carnarvon tìm thấy mộ Tutankhamun tại thung lũng Các vị vua ở thành phố Luxor. Trong mộ vẫn còn xác ướp của ông. Phát hiện của Howard Carter khi đó được đánh giá là sự kiện khảo cổ quan trọng nhất thế kỷ 20. Nó quan trọng vì lăng mộ của Tutankhamun là mộ pharaoh duy nhất từ trước tới nay hầu như còn nguyên vẹn. Trong hơn 3.000 năm qua, gần như tất cả các mộ ở thung lũng Các vị vua đều đã bị bọn trộm viếng thăm.

Telegraph cho biết, vua Tutankhamun – thường được gọi là vua Tut – rất có thể là vua thứ 12 của triều đại thứ 18 trong lịch sử Ai Cập cổ đại. Nhiều nhà khoa học cho rằng ông trị vì từ năm 1334 tới 1324 trước Công nguyên.Vua Tut qua đời khi mới 19 tuổi và không có con nối ngôi. Cái chết của ông trở thành một bí ẩn trong suốt nhiều thế kỷ.

Bằng nỗ lực phân tích gene, chụp tia X và những biện pháp thường dùng trong ngành nhân loại học, các nhà khoa học đã phát hiện ra, trong người vị hoàng đế trẻ này có một số bệnh đó là bệnh Kohler loại II – tình trạng rối loạn khiến xương vỡ do thiếu máu. Bên cạnh đó, họ còn tìm thấy dấu vết của ký sinh trùng gây bệnh sốt rét trong 4 xác ướp – bao gồm cả xác của vua Tut. Nhóm nghiên cứu kết luận: “Kết quả phân tích cho thấy tình trạng hoại tử của xương cùng với bệnh sốt rét có thể là nguyên nhân gây nên cái chết của Tutankhamun”.

Nguồn Vnkhampha.com

Dịch sốt rét

Những cuộc tàn phá kinh hoàng trong lịch sử của bệnh sốt rét

Sốt rét là một trong những đại dịch lâu đời nhất. Dịch này là yếu tố trực tiếp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp trong những biến động to lớn trong lịch sử. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính trong năm 2013, hơn 198 triệu người mắc bệnh sốt rét và khoảng 584.000 người tử vong vì căn bệnh này. Cứ năm người tử vong thì có bốn trẻ em dưới năm tuổi. Căn bệnh này là mối đe dọa cho khoảng một trăm quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, gây nguy hiểm cho khoảng 3,2 tỉ người.

Bệnh sốt rét là nguyên nhân dẫn đến dự diệt vong của đế quốc La Mã

Có giả thiết cho rằng bệnh sốt rét là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc La Mã cổ đại. Trong các ghi chép của sử sách cho thấy, người Ai Cập cổ đại đã đối phó với các triệu chứng tương tự như căn bệnh này từ 3.500 năm trước. Đến năm 1880, ký sinh trùng sốt rét mới được phát hiện.

Ngay nay với sự tiến bộ vượt bậc của ngành y học thế giới, con người có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh sốt rét tại một số quốc gia như Mỹ. Nhưng vẫn có đến 660.000 người chết mỗi năm và 200 triệu người bị ảnh hưởng bởi đại dịch này.

Tính đến năm 2016, có gần nửa dân số thế giới có nguy cơ bị mắc chứng bệnh này. Bệnh sốt rét được xem là căn bệnh tồn tại song hành cùng sự phát triển của loài người. Trên thực tế, bất kỳ ai cũng có thể bị nhiễm căn bệnh này điều đó đồng nghĩa với việc căn bệnh này có ảnh hưởng lớn đến những mốc lịch sử quan trọng của nhân loại.

Bệnh Sốt rét là gì và bệnh sốt rét khiến người chết hàng loạt như thế nào

Bệnh Sốt rét là gì và bệnh sốt rét khiến người chết hàng loạt như thế nào: Đại dịch khiến cho đế chế La Mã không kịp trở tay

Vào năm 476 sau Công nguyên, Đế quốc La Mã đã sụp đổ. Sự sụp đổ này được cho đã bắt đầu vào khoảng năm 184 sau Công nguyên, tức là sau cái chết của Hoàng đế Marcus Aurelius.

Có rất nhiều quan điểm đưa ra lý giải sự sụp đổ của Đế quốc hùng mạnh này, trong đó có một quan điểm được hỗ trợ bởi các bằng chứng DNA đó là dịch bệnh sốt rét. Năm 2001, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm ADN trên xương người được cho là có niên đại khoảng 450 sau Công nguyên (ngay trước khi La Mã suy tàn), kết quả cho thấy có dấu hiệu của bệnh sốt rét.

Điều này đồng nghĩa với việc bệnh sốt rét đã xuất hiện ở Đế quốc La Mã vào thời điểm này. Điều này tương quan với lý thuyết rằng một đại dịch lớn tấn công các công dân của Đế quốc La Mã, dẫn đến sự suy tàn của một nền văn minh.

Dịch sốt rét – nguyên nhân sự tuyệt chủng của khủng long

Khoảng 66 triệu năm trước đã xảy ra một cuộc tuyệt chủng hàng loạt, khiến cho 80% sự sống trên trái đất bị diệt vong, trong đó loài khủng long cổ đại bị chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Đến nay có rất nhiều tranh luận của giới nghiên cứu về nguyên nhân tuyệt chủng của loài khủng long.

Nhiều ý kiến cho rằng đó là do hoạt động của núi lửa và các vận động địa chất lớn gây nên. Nhưng những nghiên cứu mới đây nhất từ trường cao đẳng khoa học tại đại học bang Oregon, Mỹ lại cho rằng: Các bằng chứng hóa thạch của khủng long mà các nhà khảo cổ học tìm được cho thấy bệnh sốt rét do muỗi đốt lây truyền đã có cách đây 20 triệu năm và chúng đã đốt khủng long, ít nhất 100 triệu năm trước thậm chí nhiều hơn. Bằng chứng tìm thấy trong các loài côn trùng hóa thạch, cụ thể là những loài hóa thạch được bảo tồn trong hổ phách đã khiến tiến sĩ côn trùng học George Poinar Jr lập luận rằng: sốt rét đã góp phần đáng kể vào sự tuyệt chủng của loài khủng long khoảng 65 triệu năm trước.

Sự hình thành của Vương quốc Anh

Năm 1698, người dân Scotland vừa trải qua 7 năm nạn đói kinh hoàng và vừa ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài gần một thập kỷ, xác người la liệt trên nhiều đường phố. Để đi tìm cuộc sống mới, vào mùa thu năm 1698, 1.700 người Scotland được cử đi thám hiểm đến Damien – một vùng đất thuộc Panama. Trên đường đi thám hiểm này có khoảng 70 người tử vong.

Nhưng, vào mùa xuân 1699, những trận mưa kéo dài liên miên khiến số lượng muỗi tại Damien gia tăng nhanh chóng gây ra hàng trăm ca tử vong do bệnh sốt rét. Trong số 1.700 Scotland đi thám hiểm, chỉ còn 300 người. Tháng 8/1699, một đoàn thám hiểm thứ hai lên đường, nhưng cũng như đoàn tiền nhiệm, chỉ còn một số ít người quay trở về.

Cuộc thám hiểm tìm ra vùng đất mới thất bại hoàn toàn khiến Scotland nhận hao tổn nặng nề về người và của. Đồng thời cũng giáng một đòn mạnh mẽ vào bộ máy điều hành nhà nước. Năm 1707, Scotland trở thành một thành viên của Vương quốc Anh, đổi lại, Anh đồng ý trả hết nợ cho Scotland. Đến tận ngày nay, người ta vẫn cho rằng sự quy nhập vào Vương quốc Anh của Scotland là hậu quả của cuộc thám hiểm Damien mang lại.

Sự thắng lợi của Cách mạng Mỹ

Những người châu Âu định cư ở Nam Carolina đã phát triển nền nông nghiệp lúa nước. Điều kiện khí hậu cùng đặc điểm canh tác nông nghiệp khiến nơi đây trở thành nơi trú ngụ và phát triển của muỗi. “Carolina là thiên đường vào mùa xuân, địa ngục vào mùa hè và bệnh viện vào mùa thu” cho thấy sự ảnh hưởng nặng nề của căn bệnh sốt rét hoành hành nơi đây.

Trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ, năm 1779, người Anh đã quyết định tiến hành cuộc đánh chiếm miền Nam, đứng đầu là tướng Charles Cornwallis. Ban đầu, cuộc chiến giành nhiều thắng lợi nhưng bước vào mùa hè và mùa thu năm 1780, toàn bộ đội quân của họ bị thiệt hại nặng nề bởi sốt rét. Cuối cùng, họ buộc phải tháo chạy khỏi Carolina. Vào giữa mùa hè năm 1781, Tướng Cornwallis cùng toàn bộ 8.000 binh lính đóng quân tại Yorktown đã phải đầu hàng trước quân đội Mỹ vì không còn sức chiến đấu sau khi trải qua dịch sốt rét trước đó.

Sự đầu hàng tại Yorktown về cơ bản là yếu tố quyết định dẫn đến kết thúc cuộc chiến tranh giữa Vương quốc Anh và thuộc địa Mỹ. Năm 1782, các cuộc đàm phán hòa bình và Hiệp ước Paris được ký kết, đến tháng 9/1783, chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh 8 năm và nước Mỹ giành lại độc lập hoàn toàn.

Tiền thân của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC)

Đây là cơ quan thuộc Bộ Y tế và dịch vụ nhân sinh Hoa Kỳ, có trụ sở ở quận DeKalb, bang Georgia, Mỹ. CDC tập trung vào việc phát triển và ứng dụng hệ thống phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật nhất là các bệnh lây nhiễm, sức khỏe môi trường, sức khỏe nghề nghiệp… Trước khi có chức năng hoạt động như ngày nay, CDC từng bắt nguồn từ một cơ quan trong thời chiến, là cơ quan phòng chống sốt rét tại các khu chiến sự. Ban đầu, nhiệm vụ của cơ quan này là tham gia chống sốt rét bằng thuốc trừ sâu DDT và kiểm soát vùng dịch. Sau đó, nhiệm vụ của CDC mở rộng từ phòng chống bệnh sốt rét sang bệnh lây qua đường tình dục và phát triển sang phòng chống chấn thương, an toàn lao động…

Sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu DDT

Năm 1939, bác sĩ, nhà hóa học người Thụy Điển Paul Heramm Muller xác nhận DDT là hóa chất hữu hiệu trong việc trừ sâu rầy và không nguy hại với con người. Ngay khi xuất hiện, DDT đã tỏ ra là một loại thần dược trong việc bảo vệ thực vật, có tác dụng ngay lập tức lên các côn trùng hại nông phẩm, dập tắt dịch sốt rét và rầy. Trong Thế chiến thứ II, quân đội Mỹ đã sử dụng DDT để diệt muỗi, từ đó loại bỏ dịch bệnh sốt rét. Sau Chiến tranh thế giới II, việc sử dụng DDT trở nên phổ biến hơn trên toàn thế giới. Kết quả cho thấy, năm 1946 có 400.000 trường hợp mắc bệnh sốt rét nhưng đến năm 1950 đã gần như không có trường hợp nào được ghi nhận thêm mới. Tuy nhiên, sau này người ta phát hiện DDT có tác động tiêu cực đến môi trường và động vật hoang dã cũng như con người. Do đó, thuốc trừ sâu này đã bị cấm sử dụng ở Mỹ từ năm 1972, nhưng nó vẫn được sử dụng như một cách phòng ngừa hiệu quả với bệnh sốt rét ở một số nơi thuộc châu Á, Nam Mỹ và châu Phi.

Theo vnkhampha.com

sot ret khi mang thai

Bệnh sốt rét ở trẻ em và phụ nữ mang thai

Sốt rét ở trẻ em

Sốt rét ở trẻ có nhiều loại. Loại bẩm sinh rất hiếm gặp, thường do người mẹ mang thai nhiễm ký sinh trùng sốt rét. Ký sinh trùng này từ máu mẹ qua rau thai vào thai nhi. Bệnh dễ gây sẩy thai, đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai; trẻ sinh ra thường xanh xao thiếu máu, gan và lách to, vàng da và niêm mạc, dễ tử vong. Sốt rét ở trẻ sơ sinh xảy ra khi trẻ bị nhiễm ký sinh trùng do muỗi đốt. Triệu chứng bệnh xuất hiện muộn (thường 3-4 tuần sau đẻ), không điển hình nhưng cũng có khi trẻ sốt liên tục, hôn mê co giật, tiêu chảy. Tiên lượng bệnh rất xấu, tỷ lệ tử vong cao.

Sốt rét sơ nhiễm thường gặp ở những trẻ trên 6 tháng (nhất là 4-5 tuổi) sống tại vùng có dịch sốt rét lưu hành. Các cơn sốt thường không điển hình, trẻ hay bị co giật do sốt cao, nôn, đau bụng, tiêu chảy, thiếu máu nhanh, lách sưng đau, ho, viêm phế quản. Trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, chậm phát triển về thể lực. Một đứa trẻ có dấu hiệu và triệu chứng sốt rét có thể có những biểu hiện ban đầu như dễ nổi cáu, uể oải, kém ăn và các vấn đề liên quan đến giấc ngủ. Các triệu chứng theo sau đó thường là ớn lạnh, sau đó là sốt và thở gấp. Sốt có thể cao từ từ trong 1, 2 ngày hoặc có thể cao đột ngột đến 105 độ C hoặc cao hơn nữa. Sau đó, khi cơn sốt hạ và thân nhiệt nhanh chóng trở lại bình thường, trẻ bắt đầu đổ mồ hôi nhiều.

Triệu chứng trẻ ớn lạnh, sốt, đổ mồ hôi thường lặp đi lặp lại trên cơ thể trẻ từ 2 đến 3 ngày, tùy thuộc vào loại ký sinh trùng sốt rét mà bị lây. Do nhiều triệu chứng ban đầu không rõ rệt nên nhiều gia đình không phát hiện ra con mình bị sốt rét mà lại nhầm lẫn với các bệnh sốt thông thường khác.

Sốt rét ở trẻ lớn thường có triệu chứng điển hình là sốt thành cơn, gồm 3 giai đoạn, khởi đầu là rét run, sau đó sốt nóng và tiếp sau là vã mồ hôi và giảm sốt. Cơn sốt có thể cách nhật (nếu do P.vivax) hoặc hàng ngày (nếu do P.falciparum). Kèm theo sốt, trẻ xanh xao, thiếu máu và gan lách to ra.

Cách phòng bệnh tốt nhất là tránh không bị muỗi đốt, cho trẻ ngủ màn, kể cả ban ngày, vệ sinh môi trường, phát quang bụi rậm, đậy các đồ chứa nước để muỗi không có chỗ đẻ trứng. Những trẻ theo gia đình vào vùng sốt rét phải được uống thuốc phòng. Về điều trị, ngoài việc dùng thuốc sốt rét theo chỉ định, phải chú ý cho trẻ hạ sốt bằng paracetamol khi có sốt cao, uống đủ nước, ăn những thực phẩm bổ dưỡng và dễ tiêu hóa.

Sốt rét ở phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai thường nhạy cảm với dịch sốt rét bởi vì hệ miễn dịch của họ bị giảm mạnh trong thời kỳ mang thai, người có thai bị sốt rét ác tính dễ bị thiếu máu, hạ đường huyết và suy thai, tử vong thai.

Hậu quả của bệnh sốt rét với phụ nữ có thai là vô cùng kinh khủng. Đối với thai nhi, những người mẹ mắc sốt rét sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai, đẻ non, nhiễm trùng hậu sản sau sảy thai, sinh ra trẻ có cân nặng sơ sinh thấp, chậm phát triển trong giai đoạn đầu. Trẻ sinh ra thấp cân là một nguyên nhân dẫn đến tử vong ở trẻ sơ sinh. Hiện nay, các phương pháp tiếp cận mới đưa ra đang đem tới hi vọng giảm gánh nặng do bệnh sốt rét tác động đến phụ nữ mang thai và cải thiện sức khỏe của bà mẹ và trẻ em.

Khi bị sốt rét, thai phụ cũng dễ bị bội nhiễm các vi khuẩn khác (viêm phổi, viêm màng não, viêm đường tiết niệu); khi sinh dễ bị phù phổi cấp, suy tim; có thể gây nhiễm sốt rét cho trẻ từ trong bào thai (sốt rét bẩm sinh)…

Người có thai bị sốt rét dễ bị sảy thai, suy thai, đẻ non, đó là hậu quả tiến triển xấu của bản thân bệnh chứ không phải do dùng thuốc. Thai phụ cần biết rõ điều này, yên tâm điều trị, lường trước, xử lý kịp thời biến cố, tránh những thắc mắc không đúng khi biến cố xảy ra trùng hợp với thời gian dùng thuốc.

Điều trị sốt rét ở phụ nữ có thai là điều vô cùng cấp bách. Khi sản phụ chưa chuyển dạ, cần điều trị nội khoa, hồi sức chống choáng và chưa cần can thiệp chuyên khoa phụ sản, mà chỉ cần cho thêm thuốc hạ sốt tránh cơn gò tử cung. Khi dấu hiệu chuyện dạ, phải phá ối sớm để tiến hành cuộc phẫu thuật đưa thai nhi ra. Lúc ngôi thai đã lọt, đủ điều kiện nên hỗ trợ Forceps lấy thai; hạn chế chỉ định mổ lấy thai nếu không có chỉ định cần thiết. Theo dõi sản phụ 24/24 giờ để đề phòng chảy máu sau đẻ vì có thể rối loạn chức năng đông máu và cần chuẩn bị máu tươi đồng nhóm, Fibrinogen, Hemocaprol, E.A.C.A (Epsilon Amino Caproid Acid) để xử trí cho sản phụ.

Riêng đối với phụ nữ có thai, nguyên tắc điều trị bệnh sốt rét là vô cùng quan trọng, nếu không cẩn thận có thể dẫn đến cái chết không đáng có của thai nhi.

Điều trị sớm, đúng và đủ liều: Điều trị cắt sơn sốt rét kết hợp chống lây lan đối với sốt rét do p.falciparum và điều trị tiệt căn (sốt rét do P.vivax P.ovale). Các trường hợp do p.falciparum không được dùng một thuốc sốt rét đơn thuần, phải điều trị thuốc phối hợp để hạn chế kháng thuốc và tăng hiệu lực. Điều trị thuốc sốt rét đặc hiệu kết hợp với điều trị hỗ trợ và nâng cao thể trạng: Các trường hợp sốt rét ác tính phải chuyển về đơn vị hồi sức cấp cứu của bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, theo dõi chặt chẽ và hồi sức tích cực.

Phụ nữ mang tahi hay bị thiếu máu, hạ đường huyết, phù phổi cấp, dễ chuyển sang thành sốt rét ác tính, vì vậy phải điều trị nhanh chóng. Để đối phó với sốt rét ác tính, phụ nữ có thai khi bị sốt rét ác tính dễ sảy thay, đẻ non, thai chết lưu và tử vong. Do đó cần điều trị tích cực diệt ký sinh trùng sốt rét và kết hợp điều trị triệu chứng, biến chứng. Ngoài ra, điều trị hỗ trợ sốt cao, hạ nhiệt cắt cơn co giật xử lý sốc, hạ đường huyết, xử lý đái huyết cầu tố. Sau sinh, cần chuẩn bị các phương tiện và chế độ chăm sóc trẻ sơ sinh tốt vì mẹ bị sốt rét ác tính sơ sinh thường non tháng, suy dinh dưỡng, hoặc bị chết lưu.

Sốt rét ác tính thường đe dọa sức khỏe, tính mạng sản phụ và trẻ sơ sinh. Các tai biến sản khoa như chảy máu, nhiễm khuẩn cũng thường xảy ra. Cho nên cần chuyển đến tuyến trên có điều kiện điều trị, hồi sức tốt mới mong giảm thấp tỷ lệ tử vong cho sản phụ và sơ sinh, góp phần cùng ngành y tế chăm sóc, quản lý bà mẹ an toàn.

Theo vnkhampha.com

6-hieu-nham-chet-nguoi-ve-benh-sot-xuat-huyet

Bệnh Sốt rét do muỗi Anopheles gây ra nguy hiểm như thế nào?

Bệnh sốt rét là gì?

Sốt rét hay còn có tên gọi khác là ngã nước, là chứng bệnh gây ra bởi ký sinh trùng Llasmodium. Nguyên nhân lây truyền từ người này sang người khác chính là muỗi Anopheles. Bệnh sốt rét xuất hiện phổ biến ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Mỹ, châu Á và châu Phi. Ước tính trung bình mỗi năm có khoảng 515 triệu người bị mắc bệnh, từ 1 – 3 triệu người tử vong. Đa số trẻ em ở khu vực phía nam sa mạc Sahara, châu Phi bị mắc bệnh sốt rét. Có thời điểm sốt rét trở thành đại dịch mà thế giới không thể kiểm soát nổi. Thêm nữa 90% số ca tử vong thường xảy ra tại châu Phi. Sốt rét thường đi cùng với nghèo, đói, lạc hậu và là một đại dịch cản trở sự phát triển của nền kinh tế.

Dịch sốt rét là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất và là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Bệnh gây ra bởi ký sinh trùng protozoa thuộc chi Plasmodium. Chi này có bốn loài làm con người nhiễm bệnh. Nguy hiểm hơn cả là Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax. Hai loài còn lại (Plasmodium ovale, Plasmodium malariae) cũng gây bệnh nhưng ít tử vong hơn. Nhóm các loài Plasmodium gây bệnh ở người thường được gọi chung là ký sinh trùng sốt rét. Riêng loài P. knowlesi, phổ biến ở Đông Nam Á, gây bệnh sốt rét ở khỉ nhưng cũng có thể gây nhiễm trùng nặng ở người.

Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt thành cơn với 3 giai đoạn: Rét, nóng và vã mồ hôi; sốt có chu kỳ và thường kèm theo thiếu máu, lách to. Bệnh cảnh lâm sàng của sốt rét rất đa dạng với các thể: Mang ký sinh trùng lạnh, thể tiên phát, tái phát, thông thường điển hình, sốt rét ác tính, sốt rét đái huyết cầu tố. Đôi khi triệu chứng này tái phát mỗi 48 đến 72 giờ, tùy theo loại ký sinh trùng và thời gian nhiễm bệnh.

Nói thêm về ký sinh trùng sốt rét: chúng có tên khoa học là Plasmodium, là một loại ký sinh trùng đơn bào thuộc lớp bào tử. Ký sinh trùng sốt rét thường ký sinh bắt buộc trên cơ thể sinh vật để tồn tại và phát triển. Chi Plasmodium fđược Ettore Marchiasfava và Angelo Cell miêu tả năm 1885. Hiện tại khoa học đã tìm ra 200 loài của chi này và các loài mới vẫn đang dần dần được miêu tả. Trong số trên 200 loài đã biết của chi Plasmodium thì ít nhất 11 loài ký sinh trên người. Các loài khác ký sinh trên các động vật khác, bao gồm khỉ, động vật gặm nhấm, chim và bò sát. Các sinh vật ký sinh này luôn luôn có 2 vật chủ trong vòng đời của chúng: một vật chủ muỗi và một vật chủ là động vật có xương sống.

Ở ngoài cơ thể, ký sinh trùng sốt rét cần có phương pháp nuôi cấy đặc biệt hoặc được giữ ở nhiệt độ lạnh để duy trì sự sống. Khi vào đến cơ thể người chúng ký sinh nội tế bào, cụ thể là ở tế bào gan hoặc hồng câu. Chúng cũng chính là nguyên nhân gây ra bệnh sốt rét. Đời sống của ký sinh trùng sốt rét ngắn nhưng chúng sinh sản nhanh và nhiều do vậy tồn tại lâu dài trong cơ thể[3]. Plasmodium có 2 phương thức sinh sản, sinh sản vô tính thực hiện ở vật chủ phụ (người hoặc những động vật khác) và sinh sản hữu tính ở vật chủ chính là muỗi Anopheles. Plasmodium có cấu tạo đơn giản, cơ thể gồm thành phần chính là nhân, nguyên sinh chất và một số thành phần khác, chúng không có không bào nên mọi hoạt động di dưỡng đều thực hiện qua màng tế bào, do không có bộ phận di động nên Plasmodium thường phải ký sinh cố định.

Có nhiều loại ký sinh trùng sốt rét ký sinh ở cơ thể người, chúng có hình thái và khu vực sống khác nhau, một số loại chính như: P.falciparum: Gặp nhiều ở vùng nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình năm tương đối cao. Loại ký sinh trùng sốt rét này hay gặp ở châu Á (đặc biệt là vùng Đông Nam Á), châu Phi, châu Mỹ La Tinh và ít gặp hơn ở châu Âu. Hiếm gặp P.falciparum ở nơi có bình độ cao; P.vivax: Gặp nhiều ở châu Âu, còn châu Á và châu Phi chỉ gặp nhiều ở một số nơi; P.malariae: Xuất hiện nhiều ở châu Âu, châu Phi, ít hơn ở châu Mỹ, còn châu Á rất hiếm gặp; P.ovale: Nói chung hiếm gặp trên thế giới, chủ yếu gặp ở trung tâm châu Phi.

Theo các cơ sở phân loại bệnh sốt rét cảu Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam thì sốt rét được chia thành 2 mức độ lâm sàng: sốt rét thông thường (rốt rét chưa có biến chứng) và sốt rét ác tính (sốt rét có biến chứng). Ký sinh trùng sốt rét đi vào cơ thể người theo 3 con đường, thứ nhất là do muỗi truyền (đây là con đường phổ thông nhất), con đường thứ 2 là truyền qua máu, cuối cùng là truyền qua nhau thai. Ngoài ra những người tiêm chích ma túy dùng chung bơm kim tiêm cũng có thể dễ dàng mắc phải căn bệnh này.

Sốt rét lây lan rất nhanh, vì chúng là động vật nguyên sinh do muỗi cái Anopheles chính vào máu người, nên chúng chúng tìm đường chạy vào tế bào gan của người nhiễm bệnh và sinh sôi nảy nở ở đây. Khi một tế bào gan bị vỡ, ký sinh trùng thoát ra, xâm nhập tế bào hồng cầu và tiếp tục sinh sôi nảy nở ở đấy. Khi một tế bào hồng cầu bị vỡ, ký sinh trùng thoát ra và tiếp tục xâm nhập vào các tế bào hồng cầu khác. Chu kỳ xâm nhập vào hồng cầu, rồi hồng cầu bị vỡ cứ tiếp diễn liên tục. Mỗi khi hồng cầu vỡ, thường thì người bệnh có những triệu chứng sốt.

Biểu hiện và triệu chứng

Các biểu hiện và triệu chứng của bệnh sốt rét đặc biệt bắt đầu thể hiện từ ngày thứ 8 đến 25 sau khi nhiễm. Tuy nhiên, các triệu chứng có thể thể hiện muộn hơn so với những người sử dụng thuốc chống sốt rét. Biểu hiện chứng ban đầu của bệnh có tất cả các loại là các triệu chứng giống cảm cúm, và có thể tương tự như các trường hợp khác như nhiễm trùng, viêm ruột và bệnh do virus.

Các triệu chứng điển hình của bệnh sốt rét là kịch phát, đó là sự xuất hiện theo chu kỳ của cơn lạnh đột ngột sau đó run rẩy và sau đó sốt và đổ mồ hôi, xảy ra cứ mỗi hai ngày đối với nhiễm trùng loài P. vivax và P. ovale, và cứ ba ngày đối với nhiễm trùng P. malariae. Nhiễm trùng P. falciparum có thể gây sốt tái phát mỗi 36-48 giờ hoặc sốt ít rõ ràng hơn và gần như liên tục. Sốt rét nghiêm trọng thường gây ra bởi loài P. falciparum. Các triệu chứng của sốt rét do vi trùng falciparium phát triển 9–30 ngày sau khi nhiễm. Những người bị sốt rét thể não thường thể hiện các triệu chứng thần kinh như hành vi bất thường, run giật nhãn cầu, conjugate gaze palsy, opisthotonus hoặc hôn mê.

Hơn nữa, triệu chứng của bệnh sốt rét có thể nặng, nhẹ tùy thuộc vào cơ địa và tình trạng miễn nhiễm của người bệnh và phân ra thành các thời kỳ. Bệnh sốt rét ở thời kỳ ủ bệnh, đây là thời gian kéo dài từ 9 đến 30 ngày có thể thay đổi tùy theo mức độ nặng hay nhẹ và sự khác nhau của từng loại ký sinh sinh trùng sốt rét. Đến thời kỳ phát bệnh, giai đoạn đầu thời kỳ phát bệnh sốt rét thường có biểu hiện của người bệnh giai đoạn đoạn này là người bệnh bị đau mỏi các khớp, cơ, người có biểu hiện gai rét, tiếp theo người bệnh bị sốt cao có thể lên đến 39-40oC. Giai đoạn 2 tiếp theo của thời kỳ phát bệnh sốt rét : thời gian kéo dài sau khoảng 2 tuần, người bệnh có biểu hiện bị sốt rét, sốt nóng diễn ra liên tục theo chu kỳ và thường sốt kéo dài từ 6-12h kèm theo triệu chứng người vã mồ hôi, suy nhược, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi…. Với những người bị sốt rét thường xuyên sẽ kèm theo các triệu chứng như thiếu máu mãn tính với các biểu hiện dễ nhìn thấy như chóng mặt, da xanh, suy kiệt. Bệnh sốt rét thời kỳ lui bệnh, người bệnh không còn bất kỳ một biểu hiện nào của 2 thời kỳ trên và ký sinh trùng trong cơ thể người bệnh được điều trị triệt để. Với những người thường xuyên mắc bệnh sốt rét thì cần phải theo dõi người bệnh trong vài năm để điều trị cho đến khi không còn xuất hiện bất kỳ một ký sinh trùng nào trong cơ thể người bệnh nữa.

Sốt rét có hai loại là sốt rét lành tính và sốt rét ác tính. Bệnh sốt rét lành tính thường nhẹ hơn và tương đối dễ đối phó. Bệnh sốt rét ác tính rất nghiêm trọng và đôi khi có thể gây tử vong.

Sốt rét lành tính, có tên khoa học là Benign malaria, triệu chứng phổ biến nhất của bệnh chính là sốt cao. Tuy nhiên, không sốt không có nghĩa là không bị sốt rét. Các triệu chứng khác của bệnh như nhức đâu, đau cơ, đau bụng, ho, cảm thấy mệt mỏi. Trẻ e, có thêm biểu hiện tiêu chảy và ói mửa. Nếu sử dụng thuốc phòng chống sốt rét thì có thể có thêm các triệu chứng khác nhau như đau dạ dày đau lưn. Cơn sốt thường kéo dài từ 1 – 2 ngày sau đó có các triệu chứng đầu tiên.

bệnh sốt rét ác tính có tên khoa học Malignant malaria, gây ra bởi Plasmodium falciparum. Sốt rét ác tính thường bắt đầu với các triệu chứng tương tự sốt rét lành tính, nhưng thường dẫn đến các biến chứng nặng hơn. Chẳng hạn nhưu thiếu máu, các vấn đề hô hấp, suy gan, suy thận, số. Sốt rét ác tính có thể ảnh hưởng đến não bộ và hệ thần kinh trung ương mà thậm chí có thể dẫn đến tử vong.

Khi các ký sinh sốt rét đi vào dòng máu, chúng sẽ đi đến gan, nơi chúng tăng lên gấp nhiều lần. Cứ mỗi vài ngày, hàng ngàn ký sinh lại được thoát ra từ gan vào máu, nơi chúng phá hủy các tế bào hồng cầu. Một số ký sinh vẫn ở lại gan, tiếp tục sinh sôi nảy nở và phóng thích nhiều ký sinh hơn nữa vào máu sau mỗi vài ngày.

Vòng đời, chu kỳ của các loại ký sinh trùng sốt rét ký sinh ở người

Trong vòng đời của ký sinh trùng sốt rét, mỗi con muỗi anopheles (vật chủ trung gian truyền bệnh) truyền một dạng lây nhiễm di động (được gọi chung là thoi trùng) vào động vật chủ có xương sống như con người (vật chủ thứ 2), hoạt động này có vai trò là một vec-tơ truyền bệnh. Một số sporozoite di chuyển thông qua các mạch máu để vào trong các tế bào gan (hepatocyte), tại đây chúng bắt đầu sinh sản vô tính (mô schizogony) tạo ra hàng ngàn merozoite. Các merozoite này lây nhiễm các hồng cầu mới và bắt đầu chu trình nhân bản vô tính, chúng tạo ra 8 – 24 merozoite lây nhiễm mới, lúc này các tế bào mới ra và chu kỳ lây nhiễm các tế bào mới bắt đầu.

Chu kỳ của các loại Plasmodium ký sinh ở người, có 4 loại ký sinh trùng sốt rét trên tuy có khác nhau về hình thái học nhưng diễn biến chu kỳ ở người và muỗi truyền bệnh tương tự nhau, gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn sinh sản và phát triển vô tính trong cơ thể người; Giai đoạn sinh sản hữu tính ở muỗi Anopheles truyền bệnh.

Giai đoạn sinh sản vô tính trong cơ thể người chia làm hai thời kỳ, thời kỳ phát triển trong gan và thời kỳ sinh sản vô tính trong hồng cầu. Quá trình cụ thể như sau: muỗi Anopheles mang mầm bệnh (thoa trùng) đốt người, thoa trùng từ nước bọt của muỗi truyền vào máu ngoại biên của người. Thoa trùng chủ động tìm đường xâm nhập vào gan, vì tại giai đoạn đó máu không phải là môi trường thích hợp cho thoa trùng tồn tại và phát triển, thời gian chúng ở trong máu chỉ dưới 1 giờ đồng hồ.

Thoa trùng xâm nhập tế bào gan và bắt đầu phân chia, đến một lượng nhất định làm tế bào gan bị vỡ ra giải phóng những ký sinh trùng thế hệ mới, đây là giai đoạn phát triển của nhiều thoa trùng. Từ gan vào máu, ký sinh trùng xâm nhập hồng cầu, chúng sinh sản vô tính tại đây đến mức độ đầy đủ làm vỡ hồng cầu giải phóng ký sinh trùng, đại bộ phận những ký sinh trùng này sẽ lại thâm nhập vào hồng cầu khác để tiếp tục sinh sản vô tính.

Nhưng một số mảnh ký sinh trùng khác trở thành những thể giao bào đực cái, nếu muỗi hút những giao bào này, chúng sẽ phát triển chu kỳ hữu tính ở trong dạ dày của muỗi, nếu không được muỗi hút thì sau một thời gian sẽ bị tiêu hủy. Khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành chu kỳ vô tính trong hồng cầu tùy từng chủng loại Plasmodium, có thể từ 40 đến 72 giờ, do đó trong khoảng thời gian này cơ thể người thường bị sốt rét cách nhật. Sốt rét cách nhật thường xảy ra hàng loạt sau mỗi 24 tiếng đồng hồ. Giao bào đực và cái được muỗi hút vào dạ dày sẽ phát triển thành những giao tử đực và cái, qua sinh sản hữu tính sinh ra thoa trùng. Các thoa trùng đến tập trung trong tuyến nước bọt của muỗi là tiếp tục truyền bệnh cho người khác.

Các thể sốt rét

Sốt rét tiên phát: Là sốt rét được biểu hiện lần đầu tiên ở bệnh nhân, thường gặp ở những người mới vào vùng sốt rét hoặc trẻ nhỏ từ 4 tháng đến 4 tuổi ở trong vùng sốt rét lưu hành. Biểu hiện lâm sàng của sốt rét tiên phát là sốt liên tục 39 – 40 độ C hoặc sốt dao động, chồng cơn (2 – 3 đỉnh sốt trong ngày), hội chứng thiếu máu và lách to ít gặp. Chẩn đoán sốt rét tiên phát tương đối khó, phảI dựa vào dịch tễ và xét nghiệm ký sinh trùng sốt rét

Sốt rét tái phát: Sốt rét tái phát là sốt rét gặp ở những bệnh nhân đã bị nhiễm ký sinh trùng và có sốt rét tiên phát trước đó trên 6 tháng. Sốt rét tái phát gặp ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó nhưng chưa sạch ký sinh trùng sốt rét trong máu (do ký sinh trùng kháng thuốc hoặc điều trị chưu đủ liều) gọi là tái phát gần hoặc sốt rét do P.vivax mà không được dùng thuốc diệt thể ngủ ở trong gan (hypnozoite) gọi là tái phát xa. Đặc điểm của sốt rét tái phát là:

Sốt thành cơn điển hình với 3 giai đoạn và có chu kỳ rõ rệt: Cơn sốt đến đột ngột với rét run kéo dài từ 15 phút đến 1 – 2 giờ, tiếp theo là nóng kéo dài 2 – 4 giờ và nhiệt độ cơ thể lên đỉnh cao 40 – 41 độ C, sau cùng là vã mồ hôi và nhiệt độ giảm dần về bình thường. Ngoài ra, bệnh nhân có biểu hiện rõ các triệu chứng đặc trưng như: Gan, lách sưng to, càng lâu năm thì gan, lách càng to và càng chắc hơn. Thiếu máu là triệu chứng thường gặp nhất là ở những bệnh nhân sốt rét tái phát nhiều lần. Ngoài ra có thể gặp một số triệu chứng khác như : Niêm mạc phớt vàng, tiếng thổi tâm thu nhẹ ở mỏm tim, da xạm, môi thâm.

Sốt rét giai đoạn sơ nhiễm: Là sốt rét trong vòng 6 tháng đầu. Như vậy sốt rét sơ nhiễm bao gồm cả sốt rét tiên phát và sốt rét tái phát trong vòng 6 tháng đầu tiên. Do vậy biểu hiện của sốt rét giai đoạn sơ nhiễm có thể là sốt rét tiên phát hoặc tái phát. Việc điều trị sốt rét hiện nay còn gặp nhiều khó khăn vì ký sinh trùng sốt rét (đặc biệt là P.falciparum) đã kháng lại nhiều thuốc chống sốt rét. Hơn nữa, Việt Nam có khoảng 35 triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành (trong đó có 15 triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành nặng), nên muốn điều trị sốt rét có hiệu quả phải triệt để tuân thủ phác đồ điều trị của chương trình phòng chống sốt rét quốc gia.

Sức tàn phá kinh khủng của dịch bệnh sốt rét đó là, nó khiến não bị tổn thương, khó thởi làm tích lũy chất lỏng trong phổi, suy nhiều cơ quan quan trọng trong cơ thể như gan, lá lách, gây thiếu máu nghiêm trọng, làm cho lượng đường huyết thấp, nghiêm trọng nhất là dẫn đến tử vong.

Theo vnkhampha.com

Sot do muoi chich

7 căn bệnh nguy hiểm do muỗi gây ra

Không chỉ gây bùng phát dịch bệnh virus Zika, muỗi còn là nguyên nhân lây lan hàng loạt căn bệnh nguy hiểm như sốt xuất huyết, sốt rét hay viêm não Nhật Bản.
Báo cáo của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) cho biết mỗi năm có hơn 1,5 triệu người trên toàn cầu chết và hàng trăm triệu người mắc bệnh do muỗi gây ra. Dưới đây là thống kê những căn bệnh nguy hiểm xuất phát từ muỗi đốt.

Virus Zika

Virus Zika được tìm thấy đầu tiên ở châu Phi những năm 1940, sau đó lây lan đến Nam, Trung Mỹ, Mexico, vùng Carribean, Đông Nam Á và quần đảo Thái Bình Dương. Bệnh được lây truyền chủ yếu qua vết cắn của muỗi Aedes bị nhiễm. Đối với hầu hết mọi người, các triệu chứng từ virus này đều nhẹ: sốt, phát ban, đau khớp, đau mắt đỏ và có thể tự khỏi trong vòng một tuần.

Tuy nhiên, các nhà khoa học đang nghi ngờ căn bệnh này gây nguy hiểm cho phụ nữ mang thai và thai nhi, có thể gây dị tật bẩm sinh, khiến não bị teo nhỏ gây bệnh đầu nhỏ. Bệnh đầu nhỏ khiến trẻ không phát triển đầy đủ, bị chậm phát triển trí tuệ và các vấn đề khác. Hiện chưa có thuốc đặc hiệu ngăn chặn virus Zika. CDC khuyến cáo phụ nữ có thai nên tránh đi du lịch đến các vùng có dịch.

Nhiễm virus West Nile

Virus West Nile là do muỗi vằn gây nên. Bệnh này thường gặp ở các loài động vật và chim nhưng gần đây theo báo cáo cho biết virus này đã được tìm thấy trong tế bào con người. Nó lây lan qua nước bọt và từ mẹ sang con qua đường bú sữa. Hầu hết những người nhiễm bệnh không có bất kỳ triệu chứng nào. Khoảng 1 trong 5 người có triệu chứng sốt, cảm cúm, mệt mỏi, tiêu chảy, đau khớp, nôn mửa, phát ban. Một số trường hợp nặng, bệnh có thể gây nhiễm trùng nghiêm trọng, dẫn đến co giật, sưng não, viêm màng não, thậm chí tử vong.

Viêm não Nhật Bản

Viêm não Nhật Bản là bệnh lây nhiễm gây nguy hiểm đến não do muỗi đốt. Căn bệnh này phổ biến ở châu Á, Tây Thái Bình Dương, Trung và Nam Mỹ. Một số triệu chứng nghiêm trọng của bệnh này bao gồm sốt cao, co giật, hôn mê và nhức đầu dữ dội.

7 can benh nguy hiem do muoi gay ra hinh anh 1

Muỗi là loài vật truyền nhiễm gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm cho con người. Ảnh: Telegraph.

Sốt virus Chikungunya

Sốt Chikungunya là bệnh do virus Chikungunya lây nhiễm qua trung gian muỗi. Căn bệnh được phát hiện đầu tiên ở châu Á, Ấn Độ, sau đó lây lan sang châu Âu và châu Mỹ. Các triệu chứng phổ biến của bệnh này bao gồm nhức đầu, nôn mửa, đau lưng, phát ban da và đau khớp kéo dài một vài tuần. Người bệnh cần phải nghỉ ngơi và bổ sung nhiều nước cho đến khi các triệu chứng bệnh biến mất.

Sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết là một trong những bệnh nguy hiểm nhất do muỗi gây ra. Nó chủ yếu xuất hiện ở những người nơi trong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới như Puerto Rico, quần đảo Thái Bình Dương, châu Mỹ Latinh và Đông Nam Á. Khi bị sốt xuất huyết, người bệnh có thể sốt, phát ban, nhức đầu, dễ bầm tím và chảy máu răng, nặng hơn là đau bụng, tiêu chảy, xuất huyết dưới da. Sốt xuất huyết hiện nay đã có thuốc chủng ngừa.

Sốt vàng da

Sốt vàng da là một căn bệnh phổ biến ở châu Phi và Nam Mỹ. Đó là một dạng bệnh sốt xuất huyết không có biện pháp điều trị. Sau một thời gian bệnh nặng, 15% bệnh nhân bị biến chứng với cơn sốt cao hơn, vàng da (da và lòng trắng mắt chuyển sang màu vàng) và chảy máu trong. Khoảng một nửa số bệnh nhân biến chứng bị tử vong. Bệnh đã có vắc xin ngăn ngừa, vì vậy, bạn nên tiêm chủng nếu muốn đi du lịch tới các nước châu Phi hoặc châu Mỹ Latin.

Sốt rét

Sốt rét là căn bệnh gây ra hơn 600.000 ca tử vong mỗi năm trên toàn thế giới. Nguyên nhân gây sốt rét là do muỗi cái Anopheles truyền ký sinh trùng Plasmodium vào cơ thể người qua vết cắn. Bệnh gây sốt cao, ớn lạnh, và triệu chứng như cúm nặng, có thể gây tử vong nếu không được điều trị. Bệnh có thể phòng ngừa bằng cách mắc màn ngủ, thuốc chống côn trùng, mặc áo dài tay, và có thể điều trị, nhưng nó vẫn khiến nhiều người tử vong.

Theo Zing.vn

bvtudu-nd5-1000_BJXU

Sốt xuất huyết đe dọa thai phụ, còn nguy hiểm hơn Zika

Hiện nay, bệnh sốt xuất huyết (SXH) lưu hành quanh năm và ngày càng gia tăng ở người lớn. Trong đó, thai phụ bị SXH đặc biệt nguy hiểm, do bệnh đe dọa tính mạng cả mẹ lẫn con.

Bệnh viện “chạy” tiểu cầu vì thai phụ SXH
“Trong sản khoa, bác sĩ rất lo ngại các trường hợp phụ nữ mang thai bị SXH, đặc biệt là giai đoạn nặng của SXH lại “rơi” ngay lúc chuyển dạ. Trong cuộc sinh là lúc sản phụ chảy máu nhiều, mà trên cơ địa bị SXH thì rất khó cầm máu. Có thể đe dọa tính mạng cả mẹ và con”, bác sĩ chuyên khoa 2 Phạm Thị Hải Châu, Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, Bệnh viện phụ sản Hùng Vương (TP.HCM), nhận định.
Thời gian gần đây, Bệnh viện phụ sản Hùng Vương tiếp nhận nhiều trường hợp bệnh nhân bị SXH khi đang mang thai.
Chị L.H.Y.L. (26 tuổi, ngụ Bà Rịa-Vũng Tàu) mang thai ở tuần thứ 38 thì bị SXH, sốc. Bệnh nhân nhập viện điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới (TP.HCM). Đến ngày thứ sáu, ngay giai đoạn nguy hiểm của bệnh, chị lại có dấu hiệu đau bụng, chuyển dạ. Thế là, bệnh nhân được Bệnh viện Bệnh nhiệt đới chuyển qua Bệnh viện phụ sản Hùng Vương để sinh nở.
Sốt xuất huyết đe dọa thai phụ, còn nguy hiểm hơn Zika - ảnh 2
Muỗi vằn Ades là trung gian truyền bệnh SXH – Ảnh: ShutterStock
Bệnh nhân L. bị giảm tiểu cầu nặng (giảm gần 20 lần so với mức bình thường), men gan tăng cao hơn bình thường 16 lần, chức năng thận bị ảnh hưởng. Bệnh viện Hùng Vương đã phải khẩn cấp liên hệ Bệnh viện Truyền máu Huyết học (TP.HCM) xin hỗ trợ máu, tiểu cầu chuyển qua ngay để truyền cho bệnh nhân.
Do sau khi nhập viện, thai nhi bị suy tim nên các bác sĩ đã phải “chẳng đặng đừng” mổ bắt em bé. Bé trai sinh ra nặng 3,2kg, bị suy hô hấp, được nằm hồi sức.
Trong khi đó, sản phụ lại phải được chuyển qua lại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới để tiếp tục điều trị SXH.
“Bệnh nhân L. được truyền tiểu cầu, máu, huyết thanh tươi liên tục ngay trước, trong và cả sau khi sinh. Bác sĩ phải vừa mổ lấy thai, vừa truyền máu, tiểu cầu cho bệnh nhân”, bác sĩ Châu cho biết.
Không chỉ mỗi trường hợp của chị L., cùng ngày, Bệnh viện Hùng Vương cũng tiếp nhận một ca có dấu chuyển dạ khác mà thai phụ cũng bị SXH.
Theo tiến sĩ – bác sĩ Hoàng Thị Diễm Tuyết, Giám đốc Bệnh viện Hùng Vương: Những trường hợp gặp liên tiếp cùng lúc các ca sản phụ SXH đang chuyển dạ, bệnh viện phải lo “chạy” tiểu cầu cho bệnh nhân. Trong cuộc sinh, sản phụ bị SXH cần truyền rất nhiều máu, tiểu cầu. Sinh nở vốn đã rất nguy hiểm mà sản phụ lại bị SXH thì càng nguy hiểm 10.
SXH đe dọa cả mẹ và con
Bác sĩ Tuyết cho biết: Khi thai phụ bị SXH thì thể tích tuần hoàn máu giảm, máu bị cô đặc, gây mất máu và sốc. Trong trường hợp mất máu (thiếu máu) như thế, cơ thể sẽ “ưu tiên” vận hành máu đến các cơ quan thiết yếu duy trì sự sống nên lượng máu đến tử cung sẽ bị hạn chế, có thể không đến được tử cung. Như vậy, một mặt, thai nhi không nhận được nguồn nuôi, có thể thiếu máu, thiếu dinh dưỡng, oxy; bị suy thai, thậm chí chết lưu. Mặt khác, thiếu máu sẽ làm co thắt tử cung; dẫn đến sinh non, xảy thai.
Hiện nay, SXH là bệnh lưu hành quanh năm. Đặc biệt các trường hợp mắc ở người lớn ngày càng gia tăng, trong đó có phụ nữ có thai. Bệnh SXH được đánh giá có thể ảnh hưởng lớn đến thai nhi trong thai kỳ như: sinh non, thai chết lưu, thai nhẹ cân, nhau bong non.
Người mẹ mang thai bị SXH có thể lây bệnh sang con.
Tuy nhiên, các bác sĩ không khuyến cáo chấm dứt thai kỳ, ngay cả trong 3 tháng đầu.
Đặc biệt, sản phụ bị SXH khi sinh nở có thể bị đe dọa đến tính mạng, nhất là thời điểm chuyển dạ trùng vào giai đoạn nguy hiểm nặng của bệnh SXH (ngày thứ 4, 5, 6).
“Khi bị SXH, bệnh nhân bị giảm tiểu cầu nặng, rất khó cầm máu mà sinh nở lại là lúc chảy máu rất nhiều. Nếu không thể cầm máu, tính mạng sản phụ rất nguy hiểm”, bác sĩ Châu giải thích.
Vì vậy, theo bác sĩ Châu, đối với sản phụ bị SXH, trong khi sinh nở, các bác sĩ phải hạn chế thực hiện phẫu thuật, thủ thuật.
Điều nguy hiểm nữa, theo bác sĩ Châu, trong thai kỳ, các dấu hiệu mắc SXH thường dễ nhầm lẫn với các triệu chứng khác của sản khoa. Các triệu chứng cảnh báo bệnh SXH như đau bụng, ra huyết, ói liên tục thường giống như dấu hiệu động thai, chứ ít ai nghĩ đến SXH.
Cũng có những trường hợp thai phụ mắc SXH nhẹ, chỉ ở giai đoạn sốt, sau đó hồi phục, không nguy hiểm nên không biết mình bị SXH.
Bác sĩ Châu cảnh bác các triệu chứng SXH gồm: sốt, đau đầu, đau cơ/khớp/sau hốc mắt, phát ban. Thường sốt xuất hiện từ ngày thứ 2-7 khi bệnh nhân bị SXH. Trong đó, giai đoạn nguy hiểm có thể rơi vào ngày thứ 4-6 sau khi phát bệnh. “Khi đó, thai phụ có thể kèm theo chảy máu niêm mạc, đi tiêu phân đen, nôn ra máu. Đây là các dấu hiệu nhận biết SXH trở nặng”, bác sĩ Châu lưu ý.
” Khi bị SXH, bệnh nhân bị giảm tiểu cầu nặng, rất khó cầm máu mà sinh nở lại là lúc chảy máu rất nhiều. Nếu không thể cầm máu, tính mạng sản phụ rất nguy hiểm ” theo Bác sĩ chuyên khoa 2 Phạm Thị Hải Châu, Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, Bệnh viện phụ sản Hùng Vương.
Theo Viên An ( Bảo Thanh Niên )
sotxuathuyet1-1376619663-500x0-1975-1384132431

Dễ tử vong nếu nhầm sốt rét với sốt xuất huyết

Một bệnh nhân tại Đồng Nai mới đây nhập Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới (TP HCM) trong tình trạng nguy kịch vì mắc sốt rét nặng, trong khi trước đó bị chẩn đoán nhầm là sốt xuất huyết.

Một bệnh nhân 25 tuổi quê Sóc Trăng cũng vừa tử vong do nhập viện viện trễ, bệnh đã diễn tiến qua giai đoạn nặng, hôn mê, bị tổn thương đa cơ quan, rối loạn đông máu. Trước đó, khi có biểu hiện sốt cao, bệnh nhân tự mua thuốc hạ sốt để uống và sau đó khi đi khám thì được chẩn đoán bị sốt cảm cúm thông thường, đến lúc nhập viện thì đã quá muộn.

Tiến sĩ, bác sĩ Lê Mạnh Hùng, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới cho biết, sốt xuất huyết dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh có biểu hiện sốt trong đó có bệnh sốt rét và ngược lại. Do bệnh sốt xuất huyết và bệnh sốt rét có triệu chứng ban đầu thường là sốt cao, run lạnh nên khó phân biệt. Để chẩn đoán người bệnh bị sốt rét hoặc sốt xuất huyết cần dựa thêm vào yếu tố dịch tễ và làm một số xét nghiệm xác định không quá phức tạp.

Bệnh nhân nhập viện điều trị sốt xuất huyết. Ảnh: D.N

Bệnh nhân nhập viện điều trị sốt xuất huyết. Ảnh: D.N

 

Về dịch tễ, người thăm khám cần hỏi kỹ người bệnh có đang sống ở vùng sốt rét hoặc vừa từ vùng sốt rét trở về hay không. Bên cạnh đó, bệnh nhân nếu có triệu chứng sốt cao khi sống trong vùng có dịch sốt rét hoặc từ vùng sốt rét trở về thì cần nhanh chóng nhập viện thăm khám, đồng thời cần nói rõ với bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Việc chẩn đoán bệnh sốt rét chủ yếu dựa trên xét nghiệm phát hiện ký sinh trùng sốt rét trong máu, được thực hiện khá đơn giản, vấn đề quan trọng là người khám bệnh có cảnh giác, có nghĩ đến nó hay không để thực hiện sớm ngay từ đầu. Trên thực tế, bệnh sốt rét trước đây khá nhiều nên bác sĩ rất cảnh giác với căn bệnh này. Hiện nay bệnh sốt rét ít dần, trong khi đó sốt xuất huyết lại bùng phát mạnh mẽ nên khi bệnh nhân đến khám mà chỉ có biểu hiện sốt, người ta thường nghĩ đến sốt xuất huyết mà “quên đi” sốt rét. Thêm nữa, xét nghiệm cơ bản hay làm cho người bệnh là công thức máu mà kết quả thường là không có sự khác biệt giữa sốt xuất huyết và sốt rét.

“Các bác sĩ khi thăm khám bệnh nhân có sốt nên lưu ý đến 2 bệnh trên và sớm cho làm xét nghiệm để xác định chẩn đoán hoặc loại trừ. Có trường hợp bệnh nhân sốt xuất huyết, sốt rét khi nhập viện không có biểu hiện sốt do ngoài cơn sốt hoặc đã uống thuốc hạ sốt trước đó hoặc do bệnh đã diễn tiến nặng, có biểu hiện sốc”, bác sĩ Hùng cảnh báo.

Bác sĩ Hùng cho biết, bệnh sốt rét nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời bằng thuốc đặc trị sẽ khỏi bệnh, nếu để chậm trễ bệnh có thể chuyển nặng, ác tính gây biến chứng não, gan, suy thận và xuất huyết…, dễ dẫn đến tử vong. Trong khi đó, sốt xuất huyết hiện nay chưa có thuốc đặc trị, việc chữa trị chủ yếu là hỗ trợ, giảm nhẹ các triệu chứng và hồi sức cấp cứu khi bệnh diễn tiến nặng. Như vậy nếu chẩn đoán nhầm sốt rét là sốt xuất huyết sẽ dẫn đến trường hợp bệnh có thể điều trị bằng thuốc đặc trị thì lại không được dùng, dẫn đến hậu quả xấu.

“Tuy nhiên, trong điều trị bệnh sốt xuất huyết, do chưa có thuốc đặc trị nên khó có thể lường trước diễn biến bệnh, không thể tránh khỏi trường hợp bệnh nhân được nhập viện sớm nhưng bệnh vẫn diễn tiến nặng, tử vong. Trên thực tế, việc nhập viện sớm không giúp cho bệnh sốt xuất huyết không bị trở nặng (sốc, xuất huyết, suy gan, suy thận…) mà giúp cho bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ đúng, kịp thời, không chậm trễ khi diễn tiến bệnh bất thường, đột ngột do đó giảm thiểu nguy cơ tử vong cho người bệnh”, bác sĩ Hùng nhấn mạnh.

Sai lầm phổ biến là nhiều người khi sốt thường tự ý cho dùng thuốc hạ sốt hơn 4-5 lần mỗi ngày, dẫn đến lạm dụng thuốc. Việc sử dụng thuốc hạ sốt liên tục có thể làm tổn thương gan nặng nề, che giấu triệu chứng bệnh. Bên cạnh đó, nhiều người khi hết sốt thì chủ quan, không tiếp tục theo dõi. Bệnh nhân sốt xuất huyết khi chuyển nặng, bị sốc sẽ không sốt. Nếu người bệnh đột ngột hết sốt từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 của bệnh nhưng có những biểu hiện bất thường: tay chân lạnh, đau bụng, nôn ói, đờ đẫn thì cần được nhập viện ngay.

Hiện chưa có văcxin phòng ngừa sốt xuất huyết. Để phòng bệnh cần tích cực chủ động diệt muỗi, lăng quăng. Không để các vật dụng chứa nước có thể sinh muỗi trong nhà. Cần dọn dẹp nhà cửa thoáng đãng, không ẩm thấp, phát quang bụi rậm, không để nước tù đọng quanh nhà. Các chum vại chứa nước cần được cọ rửa, vệ sinh kỹ, đậy kín nắp. Chú ý treo mùng khi ngủ, kể cả ngủ vào ban ngày.

Theo Lê Phương ( Vnexpress )

A Ministry of Public Health official holds blood test slides taken from children, who live in the Thai-Myanmar border, at a malaria clinic in the Sai Yoke district, Kanchanaburi Province October 26, 2012. REUTERS/Sukree Sukplang

Cảnh báo sốt rét kháng thuốc lan rộng tại Châu Á

02/02/2017 14:05 GMT+7- TTO – Siêu ký sinh trùng sốt rét kháng đa thuốc đang ảnh hưởng đến nhiều khu vực tại Thái Lan, Lào và Campuchia, đe dọa làm chậm tiến độ kiểm soát dịch bệnh này trên toàn cầu.

Hãng tin Reuters ngày 2-2 cho biết siêu ký sinh trùng trên có khả năng kháng các phương thuốc điều trị bệnh sốt rét tốt nhất hiện nay và đã lây lan khắp Campuchia, nam Lào và đông bắc Thái Lan.

“Chúng ta đang thua trong một cuộc chiến nhằm loại bỏ ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc artemisinin trước khi sự kháng thuốc lan rộng toàn cầu khiến cho việc tiêu diệt chúng trở nên bất khả thi” – giáo sư Nicholas White của ĐH Oxford tại Anh và ĐH Mahidol tại Thái Lan cho biết.

“Hậu quả của tình trạng kháng thuốc đang lan rộng thêm tại Ấn Độ và châu Phi có thể trở nên nghiêm trọng hơn nếu vấn đề không được giải quyết theo góc độ y tế cộng đồng toàn cầu” – giáo sư White giải thích thêm.

Nghiên cứu cho biết hơn một nửa dân số thế giới có nguy cơ bị lây nhiễm bệnh sốt rét. Hầu hết các nạn nhân là trẻ em dưới 5 tuổi sống ở những vùng nghèo nhất của châu Phi cận Sahara.

Tổ chức Y tế Thế giới cho biết những tiến bộ y tế gần đây nhằm phòng chống các căn bệnh do muỗi gây ra đã giúp giảm số lượng người chết vì các bệnh này.

Tuy nhiên bệnh do muỗi gây ra vẫn là nguyên nhân của hơn 420.000 cái chết mỗi năm.

Các chuyên gia về bệnh sốt rét cho biết tình trạng kháng thuốc nổi lên tại châu Á hiện nay là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sự tiến bộ trên.

Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Lancet Infectious Diseases, các nhà khoa học cho biết đã kiểm tra mẫu máu các bệnh nhân sốt rét tại Campuchia, Lào, Thái Lan và Myanmar.

Họ phát hiện ra dòng ký sinh trùng sốt rét đột biến duy nhất gọi là PfKelch13 C580Y trong máu các bệnh nhân tại Campuchia, Lào và Thái Lan.

Từ cuối những năm 1950 đến những năm 1970, ký sinh trùng sốt rét kháng chloroquine đã lan rộng khắp châu Á và đến châu Phi, làm sống lại ác mộng sốt rét từng khiến hàng triệu người thiệt mạng.

Sau đó chloroquine được thay thế bằng sulphadoxine-pyrimethamine (SP) nhưng tình trạng kháng thuốc SP xuất hiện tại Campuchia và một lần nữa lây lan đến châu Phi.

Do đó, giới chuyên gia đang lo sợ sự kháng thuốc artemisinin có thể một lần nữa lan rộng trên toàn thế giới.

Nhóm nghiên cứu cho rằng cộng đồng y tế tại châu Á cần tích cực kiểm soát sốt rét hơn trước khi nó trở nên “gần như không thể điều trị được nữa”.

Nguồn: tuoitre.vn