photo-3-1504138660954

Thật nguy hiểm khi bạn nhầm lẫn sốt xuất huyết với sốt virus, sốt thường

Một số người bị sốt luôn nghĩ mình bị sốt thường hay sốt virus nhưng khi đi đến xét nghiệm máu mới tá hỏa phát hiện mình bị sốt xuất huyết rất đáng quan ngại.

Trong khi dịch bệnh sốt xuất huyết đang ngày càng tiến triển trong âm thầm một cách đáng sợ, rất nhiều người lo ngại cho tình trạng sức khỏe của mình với những dấu hiệu bệnh không rõ ràng.

Hơn nữa, sốt xuất huyết và sốt virus, sốt thường có biểu hiện ban đầu tương đối giống nhau khiến người bệnh nhầm lẫn, dẫn đến điều trị sai, gây nguy hiểm tính mạng.


Dấu hiệu ban đầu của sốt xuất huyết, sốt virus và sốt thường rất giống nhau khiến nhiều người nhầm lẫn.

Dấu hiệu ban đầu của sốt xuất huyết, sốt virus và sốt thường rất giống nhau khiến nhiều người nhầm lẫn.

Một số người bị sốt luôn nghĩ mình bị sốt thường hay sốt virus nhưng khi đi đến xét nghiệm máu mới tá hỏa phát hiện mình bị sốt xuất huyết.

Nhất là trong thời điểm thời tiết giao mùa như hiện nay, sốt virus là căn bệnh cũng đang có nguy cơ bùng phát thành dịch, điều này cũng là mối quan tâm của không ít người, khiến mọi người xao nhãng, nhầm lẫn.

Vậy làm thế nào để phân biệt sốt xuất huyết, sốt virus và sốt thường? Dưới đây là những lưu ý bạn cần phải ghi nhớ về 3 tình trạng bệnh này, tránh những lo lắng không đáng có, hoặc cần nhập viện điều trị càng sớm càng tốt:

Định nghĩa

Sốt xuất huyết: Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang người lành.

Muỗi vằn có nhiều khoang trắng ở lưng và chân, thường sống ở trong nhà, đậu trong những chỗ tối như gầm bàn, gầm giường, hốc tủ. Quần áo treo trên vách…, chích hút máu người cả ngày lẫn đêm.

Sốt virus: Do virus hoặc nhiễm trùng gây ra. Sốt virus là một trong những bệnh dễ xảy ra nhất, không chỉ với trẻ em mà còn cả ở người lớn nhất là những người có sức đề kháng yếu. Sốt siêu vi hay còn gọi là sốt virus thường xảy ra vào thời điểm giao mùa nhất là trong thời tiết nóng ẩm hay nóng lạnh.


Sốt xuất huyết tà một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra.

Sốt xuất huyết tà một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra.

Sốt thường: Dấu hiệu y khoa thông thường đặc trưng bởi sự gia tăng nhiệt độ cơ thể cao hơn khoảng dao động bình thường của nhiệt độ cơ thể người là 36.5-37.5 °C. Sốt thường là đáp ứng của cơ thể với một bệnh nhiễm trùng, thường kéo dài hơn 2-3 ngày.

Ngoài ra, sốt còn có thể do những bệnh không nhiễm trùng khác, tiếp xúc với nước nóng, tập thể dục, sau chích ngừa hoặc trẻ khóc nhiều cũng làm tăng thân nhiệt.

Triệu chứng, dấu hiệu của bệnh

Sốt xuất huyết

Theo Thạc sĩ Thẩm Ngọc Trung (Phó Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Thanh Trì), người mắc bệnh sốt xuất huyết thường có các biểu hiện như sốt cao, thân thể mỏi mệt, xương khớp mỏi, huyết áp không ổn định, đầu ngón tay chân lạnh… Để cụ thể hơn, sốt xuất huyết có những dấu hiệu theo từng mức độ bệnh như sau:

– Thể trạng 1: Sốt cao, người mỏi mệt, đau xương khớp, đau đầu, đau mắt, phát ban, buồn nôn và nôn.

– Thể trạng 2: Sốt cấp tính, nhức đầu, đau khớp cơ, giãn mạch ngoại vi, huyết áp hạ, đầu ngón chân tay lạnh, có xuất huyết dưới da, niêm mạc, gan to, đau bụng (hay gặp ở bệnh nhi), bạch cầu, tiểu cầu giảm, nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng (nếu không chữa trị).

– Thể trạng 3: Nguy hiểm đe dọa tính mạng người bệnh; người bệnh tụt huyết áp mạnh thở, không bình thường, huyết cầu hạ, đau bụng cấp, nông dai dẳng, chảy máu chân răng, nôn ra máu, thở gấp, mệt mỏi kèm bứt rứt, tử vong.


Sốt virus và sốt xuất huyết dễ bị nhầm lẫn vì đều có biểu hiện phát ban da, cần căn cứ vào giai đoạn của bệnh để phân biệt.

Sốt virus và sốt xuất huyết dễ bị nhầm lẫn vì đều có biểu hiện phát ban da, cần căn cứ vào giai đoạn của bệnh để phân biệt.

 

Sốt virus

Theo ThS.BS. Nguyễn Trung Cấp (Trưởng Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương), sốt virus có những dấu hiệu khác nhau ở người lớn và trẻ em. Cụ thể như sau:

– Sốt virus ở trẻ nhỏ: Trẻ bị sốt cao đột ngột lên đến 39-40 độ C, đau cơ bắp, đau nhức khắp mình mẩy khiến trẻ quấy khóc, đau đầu. Tuy nhiên cũng có những trường hợp trẻ bị đau đầu nhưng vẫn chơi nghịch được, hoàn toàn tỉnh táo. Sau 2-3 ngày bị sốt, trẻ nổi ban.

Ngoài ra còn có một số dấu hiệu khác như chảy nước mắt, kết mạc mắt có thể đỏ, có dỉ mắt… ảnh hưởng đến thị lực. Ở một số trẻ bị sốt cao có thể bị khó thở, co giật liên hồi.

– Sốt virus ở người lớn: Mệt mỏi, đau người, sốt, ho và chảy nước mũi, nghẹt mũi, nhức đầu (thường đến sau sốt và sau đau mỏi cơ thể), phát ban da (xuất phát từ nguyên nhân sốt virus gây ra bởi virus nên tình trạng phát ban da sẽ rất phổ biến).


Trẻ bị sốt thường có dấu hiệu như nhiệt độ cơ thể tăng cao, ngủ mê, nhức đầu, chán ăn, đau họng, ho, đau tai, ói mửa và tiêu chảy.

Trẻ bị sốt thường có dấu hiệu như nhiệt độ cơ thể tăng cao, ngủ mê, nhức đầu, chán ăn, đau họng, ho, đau tai, ói mửa và tiêu chảy.

Sốt thường

Theo thông tin từ Webmd, trẻ bị sốt thường có dấu hiệu như nhiệt độ cơ thể tăng cao, ngủ mê, nhức đầu, chán ăn, đau họng, ho, đau tai, ói mửa và tiêu chảy.

Trẻ em từ 6 tháng đến 5 tuổi có thể bị co giật do sốt. Trong khi đó, người lớn bị sốt thường có dấu hiệu vã mồ hôi, cơ thể ớn lạnh và run, đau đầu, đau cơ, ăn không thấy ngon, hay cáu gắt, khô miệng vì mất nước…

Theo các chuyên gia, dựa vào những dấu hiệu cơ bản trên, bạn có thể định hình mình bị sốt xuất huyết, sốt virus hay đơn giản là sốt thường. Nếu không chắc chắn hoặc nghi ngờ những dấu hiệu của bệnh, bạn cần đến bệnh viện để bác sĩ khám, tiến hành xét nghiệm máu và điều trị kịp thời, tránh những rủi ro đáng tiếc.

Theo Tiểu Nguyễn -Trí thức trẻ

coversxh-4034-1505667732

Sốt xuất huyết: Nhập viện ngay khi có 5 dấu hiệu này

Khi cảm thấy người kích thích vật vã, đau bụng, chảy máu chân răng… người mắc sốt xuất huyết cần đến ngay BV để tái khám.

Thông thường, khi sốt cao 39-40 độ sang ngày thứ 2-3 không rõ nguyên nhân, người dân cần đến BV làm xét nghiệm để loại trừ sốt xuất huyết.

Đặc biệt, nếu kèm trạng thái mệt mỏi, li bì, đau nhức mình mẩy, đau cơ khớp, nhức mắt thì càng cần phải đi khám, bởi đây là dấu hiệu điển hình của sốt xuất huyết.

Hiện nay, test sốt xuất huyết đã được phổ cập đến tận tuyến huyện. Chỉ khi kiểm tra không phải sốt xuất huyết mới có thể yên tâm theo dõi các sốt khác như sốt virus, sốt viêm họng…

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng cần nhập viện. Tại BV Bệnh Nhiệt đới TƯ, hiện mỗi ngày khám 600-800 bệnh nhân sốt xuất huyết, số nhập viện chỉ chiếm 7-9% song BV vẫn đang quá tải.

Theo quy luật, thường trong 3 ngày đầu tiên, người bệnh sẽ sốt cao, đau đầu nhiều. Tuy nhiên, thời gian này không phải là thời gian nguy hiểm nhất, đa phần bệnh nhân vẫn có thể điều trị ngoại trú tại nhà và tái khám theo hẹn.

Sốt xuất huyết, Dịch bệnh, Bệnh truyền nhiễm

Nữ bệnh nhân 43 tuổi bị biến chứng viêm cơ tim sau mắc sốt xuất huyết, điều trị tại BV Bệnh nhiệt đới TƯ. Ảnh: T.Hạnh

Từ ngày thứ 4 (tính từ khi bắt đầu sốt trở đi) là thời điểm nguy hiểm nhất của bệnh. Bệnh nhân sẽ không còn sốt cao, nhiều người bệnh cho rằng bệnh đã bớt nguy hiểm và sắp khỏi nhưng chính giai đoạn này có thể có những biến chứng nặng, cần được theo dõi. Nguy hiểm nhất là biến chứng sốc, xuất huyết não, xuất huyết nội tạng…

TS Bùi Vũ Huy, Trưởng khoa Nhi, BV Bệnh Nhiệt đới TƯ lưu ý, khi có 5 dấu hiệu cảnh báo bệnh sốt xuất huyết trở nặng dưới đây thì người dân cần đến ngay BV:

– Tự nhiên bồn chồn, kích thích vật vã hoặc li bì

– Nôn tăng

– Tự dưng kêu đau bụng hoặc tăng cảm giác đau.

– Tiểu ít, số lần đi ít hơn, số lượng giảm hơn

– Chảy máu bất kỳ chỗ nào: chân răng, máu cam…

Khi đến BV, BS sẽ đánh giá thêm 3 dấu hiệu nữa gồm: phù nề, tràn dịch; gan to; tiểu cầu giảm.

Tiến sĩ Huy cũng lưu ý, người dân tuyệt đối không nên tự ý truyền dịch khi bị sốt. Nếu cần thiết phải truyền, BS sẽ có chỉ định với sự theo dõi sát sao của điều dưỡng về tốc độ truyền để tránh nguy cơ gây sốc.

Hiện nay, sốt xuất huyết chưa có thuốc điều trị đặc hiệu mà chỉ điều trị triệu chứng. Khi sốt cao, chỉ dùng paracetamol, tổng liều không quá 60mg/kg cân nặng/ngày với người lớn. Tuyệt đối không dùng aspirin, analgin, ibuprofen vì thể gây xuất huyết, toan máu.

Trong giai đoạn 7-10 ngày mắc sốt xuất huyết, người bệnh tốt nhất nên uống oresol; uống nhiều nước hoa quả, nước dừa, nước rau và nước lọc.

T.Hạnh ( Vietnamnet.vn )

5 dau hieu mac Sot xuat huyet

Sốt xuất huyết: Nhập viện ngay khi có 5 dấu hiệu này

Khi cảm thấy người kích thích vật vã, đau bụng, chảy máu chân răng… người mắc sốt xuất huyết cần đến ngay BV để tái khám.

Thông thường, khi sốt cao 39-40 độ sang ngày thứ 2-3 không rõ nguyên nhân, người dân cần đến BV làm xét nghiệm để loại trừ sốt xuất huyết.

Đặc biệt, nếu kèm trạng thái mệt mỏi, li bì, đau nhức mình mẩy, đau cơ khớp, nhức mắt thì càng cần phải đi khám, bởi đây là dấu hiệu điển hình của sốt xuất huyết.

Hiện nay, test sốt xuất huyết đã được phổ cập đến tận tuyến huyện. Chỉ khi kiểm tra không phải sốt xuất huyết mới có thể yên tâm theo dõi các sốt khác như sốt virus, sốt viêm họng…

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng cần nhập viện. Tại BV Bệnh Nhiệt đới TƯ, hiện mỗi ngày khám 600-800 bệnh nhân sốt xuất huyết, số nhập viện chỉ chiếm 7-9% song BV vẫn đang quá tải.

Theo quy luật, thường trong 3 ngày đầu tiên, người bệnh sẽ sốt cao, đau đầu nhiều. Tuy nhiên, thời gian này không phải là thời gian nguy hiểm nhất, đa phần bệnh nhân vẫn có thể điều trị ngoại trú tại nhà và tái khám theo hẹn.

Sốt xuất huyết, Dịch bệnh, Bệnh truyền nhiễm

Nữ bệnh nhân 43 tuổi bị biến chứng viêm cơ tim sau mắc sốt xuất huyết, điều trị tại BV Bệnh nhiệt đới TƯ. Ảnh: T.Hạnh

Từ ngày thứ 4 (tính từ khi bắt đầu sốt trở đi) là thời điểm nguy hiểm nhất của bệnh. Bệnh nhân sẽ không còn sốt cao, nhiều người bệnh cho rằng bệnh đã bớt nguy hiểm và sắp khỏi nhưng chính giai đoạn này có thể có những biến chứng nặng, cần được theo dõi. Nguy hiểm nhất là biến chứng sốc, xuất huyết não, xuất huyết nội tạng…

TS Bùi Vũ Huy, Trưởng khoa Nhi, BV Bệnh Nhiệt đới TƯ lưu ý, khi có 5 dấu hiệu cảnh báo bệnh sốt xuất huyết trở nặng dưới đây thì người dân cần đến ngay BV:

– Tự nhiên bồn chồn, kích thích vật vã hoặc li bì

– Nôn tăng

– Tự dưng kêu đau bụng hoặc tăng cảm giác đau

– Tiểu ít, số lần đi ít hơn, số lượng giảm hơn

– Chảy máu bất kỳ chỗ nào: chân răng, máu cam…

Khi đến BV, BS sẽ đánh giá thêm 3 dấu hiệu nữa gồm: phù nề, tràn dịch; gan to; tiểu cầu giảm.

Tiến sĩ Huy cũng lưu ý, người dân tuyệt đối không nên tự ý truyền dịch khi bị sốt. Nếu cần thiết phải truyền, BS sẽ có chỉ định với sự theo dõi sát sao của điều dưỡng về tốc độ truyền để tránh nguy cơ gây sốc.

Hiện nay, sốt xuất huyết chưa có thuốc điều trị đặc hiệu mà chỉ điều trị triệu chứng. Khi sốt cao, chỉ dùng paracetamol, tổng liều không quá 60mg/kg cân nặng/ngày với người lớn. Tuyệt đối không dùng aspirin, analgin, ibuprofen vì thể gây xuất huyết, toan máu.

Trong giai đoạn 7-10 ngày mắc sốt xuất huyết, người bệnh tốt nhất nên uống oresol; uống nhiều nước hoa quả, nước dừa, nước rau và nước lọc.

Theo T.Hạnh ( Vietnamnet )

muoi3-1500726082196

Thực hiện ngay những điều này hàng ngày để bình yên qua đợt dịch sốt xuất huyết nguy hiểm

Dịch sốt xuất huyết đang bùng phát trên diện rộng với một tốc độ cực kì chóng mặt. Hãy tìm hiểu về những biện pháp đơn giản nhưng khá là hiệu quả dưới đây để giảm thiểu khả năng bị mắc sốt xuất huyết nhé bạn ơi!

Tình trạng đáng báo động của dịch sốt xuất huyết

Bởi là một căn bệnh được lây lan qua muỗi truyền nên sốt xuất huyết là một trong những căn bệnh có tốc độ lây lan cao nhất. Theo Cục trưởng Cục Y tế dự phòng: trong năm nay, số bệnh nhân nhiễm sốt xuất huyết tăng 736% so với thời điểm năm ngoái. Đây là một con số thật sự đáng báo động!

Dịch sốt xuất huyết đang gần hơn mọi người nghĩ và có thể diễn biến trên bất kì ai. Nếu không được quan tâm đúng đắn, bệnh nhân mắc sốt xuất huyết hoàn toàn có khả năng tử vong.

Các biện pháp đề phòng sốt xuất huyết

Để ngăn chặn sự bùng phát đột biến của dịch, mỗi cá nhân hãy bắt đầu hành động để bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân mình, từ đó có thể ngăn ngừa sự lây lan của sốt xuất huyết. Hãy tham khảo và thực hiện ngay những biện pháp dưới đây để đề phòng sốt xuất huyết cho chính bản thân mình cũng như cho mọi người xung quanh!

1. Đề phòng thân nhiệt và tăng cường hiểu biết về bệnh của bản thân

Triệu chứng đầu tiên của sốt xuất huyết là tình trạng sốt cao, cảm giác mệt mỏi, đau đầu và đau mỏi cơ thể. Tiếp đó, bạn có thể bị đau họng và buồn nôn song song với tình trạng sốt cao. Nếu không để ý, bạn rất có thể bị nhầm lẫn với các triệu chứng của bệnh cảm thông thường và từ đó là chủ quan, lơ là với những triệu chứng này.

Trong thời điểm mùa dịch diễn biến phức tạp như hiện nay, việc cẩn thận cho bản thân mình là không hề thừa! Ngay khi có những triệu chứng bất thường của cơ thể, bạn cần theo dõi thật kĩ càng để có thể kịp thời ứng biến trong trường hợp dương tính với sốt xuất huyết.

Ngoài ra, tăng cường hiểu biết về dịch sốt xuất huyết cũng rất cần thiết bởi nó sẽ giúp bạn có phòng bị kĩ hơn trong “cuộc chiến” phòng và chống căn bệnh này.

 

2. Chú ý ăn uống để tăng cường sức đề kháng

Chế độ ăn uống cũng rất quan trọng đối với sức khoẻ của mỗi người. Lựa chọn những loại đồ ăn hợp lý sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, từ đó giảm khả năng nhiễm bệnh.

Một số loại đồ ăn phổ biến tốt cho hệ miễn dịch gồm:

– Các loại quả họ chanh (citrus): Vitamin C có trong những loại quả này sẽ giúp tăng cường tế bào bạch cầu trong máu – một yếu tố quan trọng giúp chống lại những bệnh truyền nhiễm. Bởi cơ thể không tự sản xuất được Vitamin C nên cơ thể cần được “nạp” Vitamin C mỗi ngày. Ngoài ra bạn có thể uống thêm cái loại C sủi để bổ sung lượng Vitamin C cần thiết cho cơ thể.

– Trà xanh: Trong trà xanh có chứa EGCG. Chất này đã được chứng minh có tác động rõ rệt trong việc tăng cường hệ miễn dịch ở cơ thể người.

– Sữa chua: Probiotics trong sữa chua là vi khuẩn có ích trong việc kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể con người.

– Những đồ ăn nhiều kẽm: Kẽm giúp điều chỉnh hệ miễn dịch, xây dựng và duy trì khối lượng cơ thể và có tác dụng trong việc chữa lành vết thương. Kẽm có thể được tìm thấy trong các loại đồ ăn như hàu, thịt đỏ, trứng.

– Các loại hạt: Các loại hạt chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Chúng chứa nhiều đồng, vitamin E, kẽm và các chất dinh dưỡng khác. Tất cả những chất này đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì một hệ miễn dịch khỏe mạnh. Mè và hạnh nhân là những nguồn cung đồng và vitamin E rất tốt, trong khi hạt bí đỏ và hạt điều đều rất giàu kẽm.

 

3. Mặc quần áo dài tay

Những trang phục dài tay sẽ như một lớp bảo vệ mỏng cho làn da của bạn trước sự tấn công của muỗi. Đặc biệt, hãy tránh mặc những gam màu sặc sỡ để không thu hút sự chú ý của muỗi.

 

4. Giữ cho nhà cửa luôn sạch sẽ

Một cách hiệu quả để đuổi muỗi chính là loại bỏ môi trường phát triển của chúng. Bạn hãy nhớ dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ để tránh cho muỗi sinh sôi và phát triển trong nhà của bạn.

Đặc biệt chú ý dọn sạch sẽ ở những nơi muỗi dễ trú ngụ như vườn, thùng rác, các góc nhà, góc tủ…

 

5. Đổ nước thừa khi không dùng đến

Các vũng nước, bể nước là những địa điểm lý tưởng để muỗi có thể sinh sôi và đẻ trứng. Chính vì vậy, hãy đổ bỏ những loại nước bạn không dùng đến ở trong nhà để tránh tạo điều kiện phát triển cho muỗi. Úp ngược các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến như xô, chậu, cốc, tách để giữ chúng luôn khô ráo và sạch sẽ.

6. Sử dụng thuốc xịt muỗi làm từ tỏi

Để phòng trừ muỗi trong nhà, bạn hoàn toàn có thể sử dụng các loại thuốc xịt muỗi. Tuy nhiên trong các loại thuốc xịt đó có nhiều hoá chất không tốt cho sức khoẻ. Vì vậy, bạn hoàn toàn có thể chế một loại thuốc xịt muỗi “thân thiện” với môi trường và sức khoẻ với nguyên liệu cũng rất đơn giản.

Bạn chỉ cần đun khoảng 6-7 nhánh tỏi đập dập với 250ml. Sau đó, để nguội và đổ hỗn hợp vào 1 bình xịt. Xịt hỗn hợp này vào những nơi có khả năng cao có muỗi như các bụi rậm, góc nhà, góc tủ… Mùi hăng của tỏi sẽ giúp đuổi muỗi 1 cách triệt để.

Một mẹo nhỏ là bạn nên sử dụng hỗn hợp này trước khi ra khỏi nhà để tránh cảm giác khó chịu trong trường hợp bạn không chịu được mùi hăng của loại thuốc xịt này.

7. Luôn dùng màn khi đi ngủ

Mắc màn kể cả khi ngủ trưa và ngủ đêm sẽ giúp giảm thiểu tới mức tối đa sự tấn công của muỗi trong thời điểm bạn không phòng vệ nhất. Cần để ý thường xuyên xem màn có bị rách hay có lỗ hổng nào không để có thể kịp thời thay thế, tránh cho muỗi có thể chui vào tấn công bạn.

Theo Kenh14.vn
xu-tri-dung-tai-nha-khi-tre-bi-sot-xuat-huyet

Xử trí đúng tại nhà khi trẻ bị sốt xuất huyết

Hàng năm, ngành y tế cũng tổ chức không ít các cuộc vận động phòng chống bệnh sốt xuất huyết, phổ biến thông tin, nguyên nhân, cách phòng tránh cho người dân, tuy nhiên, số ca mắc bệnh vẫn không hề giảm và dịch bệnh lại liên tục xảy ra mỗi năm (trước đây 3-4 năm mới bùng phát thành dịch).

xu-tri-dung-tai-nha-khi-tre-bi-sot-xuat-huyet

Sai lầm “chết người”

BS Lê Bích Liên (Trưởng khoa Sốt xuất huyết, BV Nhi Đồng 1) cho biết: “Có trẻ bị sốt xuất huyết trong tình trạng rất nặng mới đưa vào nhập viện. Một trong những nguyên nhân sai lầm là do gia đình chủ quan, thấy con mình biểu hiện nóng sốt liền tự ý ra ngoài tiệm thuốc tây mua thuốc. Đến khi con vẫn chưa hết sốt lại đổi thuốc, hay tăng liều bằng cách dùng thêm Aspirin, Ibuprofen, Dexa… Điều này dẫn đến việc chẩn đoán sốt xuất huyết có thể bị trễ và nặng hơn vì sử dụng thuốc không đúng. Không những vậy, trẻ có thể còn gặp những biến chứng nguy hiểm như ngộ độc thuốc, xuất huyết tiêu hóa, viêm gan do thuốc…”

Ngoài việc tự ý dùng thuốc, một số gia đình còn hạ sốt cho trẻ bằng cách cắt lể lấy bớt máu độc (dùng dao lam rạch vào da). Sai lầm trên không giúp trẻ hết sốt mà còn làm vết cắt chảy máu rỉ rả, nhiễm trùng và bầm tím.

Việc bắt gió, nặn chanh, dùng rượu chà khắp người… cũng không nên áp dụng, bởi những cách này sẽ tác động mạnh đến trẻ có thể gây sặc đường thở, ngộ độc rượu.

Nguy hiểm nhất là suy nghĩ “trẻ hết sốt có nghĩa sắp khỏi bệnh”, cần nhớ rằng, trong sốt xuất huyết, hết sốt cũng là lúc bệnh chuyển sang giai đoạn nặng hơn (lừ đừ, ói). Chữa trị sẽ gặp nhiều khó khăn và nguy cơ dẫn đến tử vong ở trẻ cao hơn.

Xử trí đúng cách tại nhà

Chẩn đoán bệnh sốt xuất huyết rất khó và dễ nhầm lẫn với các bệnh khác. Vì vậy cách tốt nhất, khi thấy trẻ có biểu hiện sốt cao từ hai ngày trở lên và xuất huyết thì cha mẹ cần nghĩ ngay đến bệnh này và đưa trẻ vào bệnh viện theo dõi.
“Tuy nhiên không phải trường hợp sốt xuất huyết nào cũng phải nhập viện. 70% các trường hợp sốt xuất huyết nhẹ có thể chăm sóc, điều trị, theo dõi tại nhà”, BS Liên nói.

Việc đầu tiên là hạ sốt cho trẻ bằng cách cho uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ và lau mát. Khi lau mát nên chú ý lau bằng nước ấm ở các kẽ nách, háng. Lau nhanh ở ngực, lưng vì hai nơi này dễ dẫn đến viêm phổi.

Trẻ bị bệnh, cần được khuyến khích ăn, uống nhiều nước (nước sôi để nguội, cam, chanh, dừa…). Các bậc phụ huynh cũng nên nhớ đừng cho trẻ ăn, uống những thức ăn có màu sẫm vì khó phân biệt với màu máu khi trẻ ói hoặc đi ngoài.

Trường hợp trẻ sốt cao dẫn đến co giật thì xử trí thế nào? BS Liên khuyên, trước hết, cha mẹ phải thật sự bình tĩnh, để trẻ nằm nghiêng trên mặt phẳng mềm, không nên cho bất cứ thứ gì vào miệng trẻ vì trẻ sẽ bị sặc. Tiếp theo là lau mát và hạ sốt, nếu áp dụng đúng trẻ sẽ hết giật sau 2 đến 5 phút.

Luôn ở bên cạnh trẻ để theo dõi diễn biến của bệnh, có phát hiện dấu hiệu trở nặng của sốt xuất huyết không (như ói mửa nhiều, đau bụng, bứt rứt, quấy khóc, tay chân lạnh, tím, vã mồ hôi; chảy máu mũi, chảy máu chân răng, ói và đi tiêu ra máu. Lúc này cha mẹ phải cho trẻ nhập viện cấp cứu kịp thời.

“Thủ phạm” gây bệnh sốt xuất huyết là muỗi vằn cái, thường sống trong nhà, đẻ trứng trong các dụng cụ chứa nước, vì vậy trẻ có thể bị muỗi chích vào ban ngày hoặc xẩm tối. Để phòng ngừa bệnh nên tích cực diệt muỗi, lăng quăng; ngủ mùng kể cả ban ngày.
Việc phòng chống bệnh sốt xuất huyết không phải chỉ riêng gia đình bạn, mà cần tuyên truyền cho lối xóm, cộng đồng cùng tham gia.

Nguồn: vietnamnet

Muoi van gay benh sot xuat huyet va zika

Bệnh do virus Zika và sốt xuất huyết khác nhau thế nào?

Bệnh do virus Zika và sốt xuất huyết đều lây truyền qua muỗi vằn. Tuy nhiên, hai căn bệnh này cũng có biểu hiện và mức độ nguy hiểm khác nhau.

Muoi van gay benh sot xuat huyet va zika

Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: Sci-News.com

* Triệu chứng:

So với sốt xuất huyết, biểu hiện bệnh do virus Zika nhẹ hơn, 80% không có biểu hiện bệnh. Tuy nhiên, khi mắc bệnh, bệnh nhân mắc virus Zika và sốt xuất huyết đều có biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, đau đầu, phát ban, đau cơ, khớp. Tuy nhiên, điểm khác nhau là bệnh nhân mắc virus Zika có thể có thêm triệu chứng đau mắt. Một điểm khác biệt nữa là bệnh nhân sốt xuất huyết thường sốt cao hơn cũng như đau nhức cơ nhiều hơn, đặc biệt là có biểu hiện riêng như xuất huyết dưới da, chảy máu mũi, chảy máu nội tạng.

* Độ nguy hiểm:

Nếu sốt xuất huyết thường khá nguy hiểm, có thể gây nên biến chứng nặng dẫn đến tử vong thì sốt do virus Zika chưa ghi nhận trường hợp tử vong nào, tuy nhiên virus Zika lại có thể ảnh hưởng đến phụ nữ mang thai và có liên quan đến hội chứng não nhỏ, hội chứng viêm đa rễ thần kinh ở thai nhi.

*Phòng bệnh:

Bệnh do virus Zika cũng như bệnh sốt xuất huyết hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu hay vaccine phòng bệnh. Do đó, biện pháp ngăn ngừa hiệu quả nhất vẫn là tiêu diệt vật trung gian truyền bệnh bằng cách: Giảm thiểu các khu vực có nước đọng, đậy kín các dụng cụ chứa nước; thường xuyên phát quang bụi rậm, vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, sử dụng lưới chắn muỗi, phun thuốc diệt muỗi trên diện rộng.

Ngoài ra, những người đang ở trong vùng có dịch bệnh cũng như người hay di chuyển giữa các vùng, phụ nữ mang thai cần lưu ý để tránh bị muỗi đốt: sử dụng thuốc chống muỗi đốt, mắc màn khi ngủ; mặc quần áo dài để phòng muỗi đốt ngay cả ban ngày.

Theo VTV.vn

bien-chung-khung-khiep-cua-benh-viem-nao-nhat-ban

Viêm não Nhật Bản: hiểu, phòng bệnh tránh tử vong cho trẻ

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban

Bệnh viêm não Nhật Bản là tình trạng nhiễm virus cấp tính, làm tổn thương hệ thần kinh trung ương. Bệnh này thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi. Bệnh gây nên do virus viêm não Nhật Bản.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-2

Bệnh được phát hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản với biểu hiện viêm não – màng não tuỷ, nhiều người mắc, tử vong rất cao.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-3

Ở nước ta, bệnh viêm não Nhật Bản hoành hành theo mùa. Bệnh thường bùng phát từ tháng 4 đến tháng 10 là thời điểm mùa hè, mưa nhiều ở miền Bắc. Đỉnh điểm của dịch thường vào các tháng 6, 7 hàng năm.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-4

Bệnh viêm não Nhật Bản lây theo đường máu, do muỗi đốt hút máu động vật nhiễm virus, sau đó đốt người lành và truyền virus cho người. Virus được truyền qua vết đốt của muỗi cái, từ tuyến nước bọt có chứa virus.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-5

Sau khi virus từ muỗi được truyền sang con người, các hạt virus nhân lên dưới da, sau đó di chuyển dần vào máu và gây bệnh. Muỗi cái bị nhiễm virus viêm não Nhật Bản có khả năng truyền bệnh suốt đời, và có thể truyền virus sang thế hệ sau qua trứng.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-6

Bệnh viêm não Nhật Bản không thể lây trực tiếp từ người sang người. Ăn uống chung, dùng chung đồ dùng, tiếp xúc gần gũi với người bệnh không làm lây bệnh.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-7

Trẻ bị nhiễm virus viêm não Nhật Bản sau 4-8 ngày ủ bệnh sẽ có các triệu chứng giống cảm cúm, biểu hiện: sốt nhẹ, sổ mũi, tiêu chảy, run, nhức đầu, nôn mửa… một số trẻ có thể có rối loạn tâm lý. Trẻ em nhiễm virus thường kém ăn. Trong trường hợp nặng, trẻ có thể bị co giật, động kinh, sốt cao 39-40 độ C.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-8

Virus viêm não Nhật Bản tấn công tới hệ thần kinh trung ương gây sung huyết, phù nề và xuất huyết vi thể ở não. Nó có thể huỷ hoại tế bào thần kinh, thoái hoá tổ chức não, viêm tắc mạch; chủ yếu xảy ra ở vùng chất xám, não giữa và thân não dẫn đến hội chứng não cấp.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-9

Sau 2-3 ngày tới 1 tuần chưa phát hiện ra bệnh, trẻ có thể bị rối loạn ý thức, sốt cao, nôn mửa, cứng gáy, mê sảng, ảo giác, co giật, động kinh, rối loạn nhịp thở, hôn mê, diễn tiến bệnh sẽ ngày càng nặng và có thể dẫn đến tử vong.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-10

Nếu có các dấu nghi ngờ trẻ có dấu hiệu trên phải được nhập viện càng sớm càng tốt để phát hiện sớm bệnh, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-11

Theo thống kê có khoảng 30% bệnh nhân viêm não Nhật Bản nhập viện bị tử vong. Trong những bé sống sót thì 30-45% số trẻ bị các di chứng thần kinh và tâm thần nặng nề.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-12

Những trẻ phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời thì bệnh sẽ giảm dần và khỏi hẳn ít gặp di chứng.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-13

Mặc dù cực kỳ nguy hiểm nhưng bệnh viêm não Nhật Bản hoàn toàn có thể phòng được. Khi đi ngủ cần ngủ màn, sử dụng các loại thuốc xịt thảo dược ngoài da chống muỗi đốt, gắn lưới chống muỗi cho tất cả các cửa nhà, cửa sổ. Khi sinh hoạt bên ngoài vào ban đêm, phải mặc quần áo dài, đi tất. Cần thông quang hoặc lấp các cống rãnh, ao vũng tù đọng quanh nhà để hạn chế muỗi sinh sôi.

Bien chung khung khiep cua benh viem nao Nhat Ban-Hinh-14

Việc đặc biệt quan trọng cần làm là đưa trẻ đi tiêm vacxin phòng viêm não Nhật Bản để ngừa bệnh.

Nguồn: kienthuc.net.vn

 

Dịch sốt rét

Những cuộc tàn phá kinh hoàng trong lịch sử của bệnh sốt rét

Sốt rét là một trong những đại dịch lâu đời nhất. Dịch này là yếu tố trực tiếp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp trong những biến động to lớn trong lịch sử. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính trong năm 2013, hơn 198 triệu người mắc bệnh sốt rét và khoảng 584.000 người tử vong vì căn bệnh này. Cứ năm người tử vong thì có bốn trẻ em dưới năm tuổi. Căn bệnh này là mối đe dọa cho khoảng một trăm quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, gây nguy hiểm cho khoảng 3,2 tỉ người.

Bệnh sốt rét là nguyên nhân dẫn đến dự diệt vong của đế quốc La Mã

Có giả thiết cho rằng bệnh sốt rét là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc La Mã cổ đại. Trong các ghi chép của sử sách cho thấy, người Ai Cập cổ đại đã đối phó với các triệu chứng tương tự như căn bệnh này từ 3.500 năm trước. Đến năm 1880, ký sinh trùng sốt rét mới được phát hiện.

Ngay nay với sự tiến bộ vượt bậc của ngành y học thế giới, con người có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh sốt rét tại một số quốc gia như Mỹ. Nhưng vẫn có đến 660.000 người chết mỗi năm và 200 triệu người bị ảnh hưởng bởi đại dịch này.

Tính đến năm 2016, có gần nửa dân số thế giới có nguy cơ bị mắc chứng bệnh này. Bệnh sốt rét được xem là căn bệnh tồn tại song hành cùng sự phát triển của loài người. Trên thực tế, bất kỳ ai cũng có thể bị nhiễm căn bệnh này điều đó đồng nghĩa với việc căn bệnh này có ảnh hưởng lớn đến những mốc lịch sử quan trọng của nhân loại.

Bệnh Sốt rét là gì và bệnh sốt rét khiến người chết hàng loạt như thế nào

Bệnh Sốt rét là gì và bệnh sốt rét khiến người chết hàng loạt như thế nào: Đại dịch khiến cho đế chế La Mã không kịp trở tay

Vào năm 476 sau Công nguyên, Đế quốc La Mã đã sụp đổ. Sự sụp đổ này được cho đã bắt đầu vào khoảng năm 184 sau Công nguyên, tức là sau cái chết của Hoàng đế Marcus Aurelius.

Có rất nhiều quan điểm đưa ra lý giải sự sụp đổ của Đế quốc hùng mạnh này, trong đó có một quan điểm được hỗ trợ bởi các bằng chứng DNA đó là dịch bệnh sốt rét. Năm 2001, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm ADN trên xương người được cho là có niên đại khoảng 450 sau Công nguyên (ngay trước khi La Mã suy tàn), kết quả cho thấy có dấu hiệu của bệnh sốt rét.

Điều này đồng nghĩa với việc bệnh sốt rét đã xuất hiện ở Đế quốc La Mã vào thời điểm này. Điều này tương quan với lý thuyết rằng một đại dịch lớn tấn công các công dân của Đế quốc La Mã, dẫn đến sự suy tàn của một nền văn minh.

Dịch sốt rét – nguyên nhân sự tuyệt chủng của khủng long

Khoảng 66 triệu năm trước đã xảy ra một cuộc tuyệt chủng hàng loạt, khiến cho 80% sự sống trên trái đất bị diệt vong, trong đó loài khủng long cổ đại bị chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Đến nay có rất nhiều tranh luận của giới nghiên cứu về nguyên nhân tuyệt chủng của loài khủng long.

Nhiều ý kiến cho rằng đó là do hoạt động của núi lửa và các vận động địa chất lớn gây nên. Nhưng những nghiên cứu mới đây nhất từ trường cao đẳng khoa học tại đại học bang Oregon, Mỹ lại cho rằng: Các bằng chứng hóa thạch của khủng long mà các nhà khảo cổ học tìm được cho thấy bệnh sốt rét do muỗi đốt lây truyền đã có cách đây 20 triệu năm và chúng đã đốt khủng long, ít nhất 100 triệu năm trước thậm chí nhiều hơn. Bằng chứng tìm thấy trong các loài côn trùng hóa thạch, cụ thể là những loài hóa thạch được bảo tồn trong hổ phách đã khiến tiến sĩ côn trùng học George Poinar Jr lập luận rằng: sốt rét đã góp phần đáng kể vào sự tuyệt chủng của loài khủng long khoảng 65 triệu năm trước.

Sự hình thành của Vương quốc Anh

Năm 1698, người dân Scotland vừa trải qua 7 năm nạn đói kinh hoàng và vừa ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài gần một thập kỷ, xác người la liệt trên nhiều đường phố. Để đi tìm cuộc sống mới, vào mùa thu năm 1698, 1.700 người Scotland được cử đi thám hiểm đến Damien – một vùng đất thuộc Panama. Trên đường đi thám hiểm này có khoảng 70 người tử vong.

Nhưng, vào mùa xuân 1699, những trận mưa kéo dài liên miên khiến số lượng muỗi tại Damien gia tăng nhanh chóng gây ra hàng trăm ca tử vong do bệnh sốt rét. Trong số 1.700 Scotland đi thám hiểm, chỉ còn 300 người. Tháng 8/1699, một đoàn thám hiểm thứ hai lên đường, nhưng cũng như đoàn tiền nhiệm, chỉ còn một số ít người quay trở về.

Cuộc thám hiểm tìm ra vùng đất mới thất bại hoàn toàn khiến Scotland nhận hao tổn nặng nề về người và của. Đồng thời cũng giáng một đòn mạnh mẽ vào bộ máy điều hành nhà nước. Năm 1707, Scotland trở thành một thành viên của Vương quốc Anh, đổi lại, Anh đồng ý trả hết nợ cho Scotland. Đến tận ngày nay, người ta vẫn cho rằng sự quy nhập vào Vương quốc Anh của Scotland là hậu quả của cuộc thám hiểm Damien mang lại.

Sự thắng lợi của Cách mạng Mỹ

Những người châu Âu định cư ở Nam Carolina đã phát triển nền nông nghiệp lúa nước. Điều kiện khí hậu cùng đặc điểm canh tác nông nghiệp khiến nơi đây trở thành nơi trú ngụ và phát triển của muỗi. “Carolina là thiên đường vào mùa xuân, địa ngục vào mùa hè và bệnh viện vào mùa thu” cho thấy sự ảnh hưởng nặng nề của căn bệnh sốt rét hoành hành nơi đây.

Trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ, năm 1779, người Anh đã quyết định tiến hành cuộc đánh chiếm miền Nam, đứng đầu là tướng Charles Cornwallis. Ban đầu, cuộc chiến giành nhiều thắng lợi nhưng bước vào mùa hè và mùa thu năm 1780, toàn bộ đội quân của họ bị thiệt hại nặng nề bởi sốt rét. Cuối cùng, họ buộc phải tháo chạy khỏi Carolina. Vào giữa mùa hè năm 1781, Tướng Cornwallis cùng toàn bộ 8.000 binh lính đóng quân tại Yorktown đã phải đầu hàng trước quân đội Mỹ vì không còn sức chiến đấu sau khi trải qua dịch sốt rét trước đó.

Sự đầu hàng tại Yorktown về cơ bản là yếu tố quyết định dẫn đến kết thúc cuộc chiến tranh giữa Vương quốc Anh và thuộc địa Mỹ. Năm 1782, các cuộc đàm phán hòa bình và Hiệp ước Paris được ký kết, đến tháng 9/1783, chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh 8 năm và nước Mỹ giành lại độc lập hoàn toàn.

Tiền thân của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC)

Đây là cơ quan thuộc Bộ Y tế và dịch vụ nhân sinh Hoa Kỳ, có trụ sở ở quận DeKalb, bang Georgia, Mỹ. CDC tập trung vào việc phát triển và ứng dụng hệ thống phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật nhất là các bệnh lây nhiễm, sức khỏe môi trường, sức khỏe nghề nghiệp… Trước khi có chức năng hoạt động như ngày nay, CDC từng bắt nguồn từ một cơ quan trong thời chiến, là cơ quan phòng chống sốt rét tại các khu chiến sự. Ban đầu, nhiệm vụ của cơ quan này là tham gia chống sốt rét bằng thuốc trừ sâu DDT và kiểm soát vùng dịch. Sau đó, nhiệm vụ của CDC mở rộng từ phòng chống bệnh sốt rét sang bệnh lây qua đường tình dục và phát triển sang phòng chống chấn thương, an toàn lao động…

Sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu DDT

Năm 1939, bác sĩ, nhà hóa học người Thụy Điển Paul Heramm Muller xác nhận DDT là hóa chất hữu hiệu trong việc trừ sâu rầy và không nguy hại với con người. Ngay khi xuất hiện, DDT đã tỏ ra là một loại thần dược trong việc bảo vệ thực vật, có tác dụng ngay lập tức lên các côn trùng hại nông phẩm, dập tắt dịch sốt rét và rầy. Trong Thế chiến thứ II, quân đội Mỹ đã sử dụng DDT để diệt muỗi, từ đó loại bỏ dịch bệnh sốt rét. Sau Chiến tranh thế giới II, việc sử dụng DDT trở nên phổ biến hơn trên toàn thế giới. Kết quả cho thấy, năm 1946 có 400.000 trường hợp mắc bệnh sốt rét nhưng đến năm 1950 đã gần như không có trường hợp nào được ghi nhận thêm mới. Tuy nhiên, sau này người ta phát hiện DDT có tác động tiêu cực đến môi trường và động vật hoang dã cũng như con người. Do đó, thuốc trừ sâu này đã bị cấm sử dụng ở Mỹ từ năm 1972, nhưng nó vẫn được sử dụng như một cách phòng ngừa hiệu quả với bệnh sốt rét ở một số nơi thuộc châu Á, Nam Mỹ và châu Phi.

Theo vnkhampha.com

sot ret khi mang thai

Bệnh sốt rét ở trẻ em và phụ nữ mang thai

Sốt rét ở trẻ em

Sốt rét ở trẻ có nhiều loại. Loại bẩm sinh rất hiếm gặp, thường do người mẹ mang thai nhiễm ký sinh trùng sốt rét. Ký sinh trùng này từ máu mẹ qua rau thai vào thai nhi. Bệnh dễ gây sẩy thai, đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai; trẻ sinh ra thường xanh xao thiếu máu, gan và lách to, vàng da và niêm mạc, dễ tử vong. Sốt rét ở trẻ sơ sinh xảy ra khi trẻ bị nhiễm ký sinh trùng do muỗi đốt. Triệu chứng bệnh xuất hiện muộn (thường 3-4 tuần sau đẻ), không điển hình nhưng cũng có khi trẻ sốt liên tục, hôn mê co giật, tiêu chảy. Tiên lượng bệnh rất xấu, tỷ lệ tử vong cao.

Sốt rét sơ nhiễm thường gặp ở những trẻ trên 6 tháng (nhất là 4-5 tuổi) sống tại vùng có dịch sốt rét lưu hành. Các cơn sốt thường không điển hình, trẻ hay bị co giật do sốt cao, nôn, đau bụng, tiêu chảy, thiếu máu nhanh, lách sưng đau, ho, viêm phế quản. Trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, chậm phát triển về thể lực. Một đứa trẻ có dấu hiệu và triệu chứng sốt rét có thể có những biểu hiện ban đầu như dễ nổi cáu, uể oải, kém ăn và các vấn đề liên quan đến giấc ngủ. Các triệu chứng theo sau đó thường là ớn lạnh, sau đó là sốt và thở gấp. Sốt có thể cao từ từ trong 1, 2 ngày hoặc có thể cao đột ngột đến 105 độ C hoặc cao hơn nữa. Sau đó, khi cơn sốt hạ và thân nhiệt nhanh chóng trở lại bình thường, trẻ bắt đầu đổ mồ hôi nhiều.

Triệu chứng trẻ ớn lạnh, sốt, đổ mồ hôi thường lặp đi lặp lại trên cơ thể trẻ từ 2 đến 3 ngày, tùy thuộc vào loại ký sinh trùng sốt rét mà bị lây. Do nhiều triệu chứng ban đầu không rõ rệt nên nhiều gia đình không phát hiện ra con mình bị sốt rét mà lại nhầm lẫn với các bệnh sốt thông thường khác.

Sốt rét ở trẻ lớn thường có triệu chứng điển hình là sốt thành cơn, gồm 3 giai đoạn, khởi đầu là rét run, sau đó sốt nóng và tiếp sau là vã mồ hôi và giảm sốt. Cơn sốt có thể cách nhật (nếu do P.vivax) hoặc hàng ngày (nếu do P.falciparum). Kèm theo sốt, trẻ xanh xao, thiếu máu và gan lách to ra.

Cách phòng bệnh tốt nhất là tránh không bị muỗi đốt, cho trẻ ngủ màn, kể cả ban ngày, vệ sinh môi trường, phát quang bụi rậm, đậy các đồ chứa nước để muỗi không có chỗ đẻ trứng. Những trẻ theo gia đình vào vùng sốt rét phải được uống thuốc phòng. Về điều trị, ngoài việc dùng thuốc sốt rét theo chỉ định, phải chú ý cho trẻ hạ sốt bằng paracetamol khi có sốt cao, uống đủ nước, ăn những thực phẩm bổ dưỡng và dễ tiêu hóa.

Sốt rét ở phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai thường nhạy cảm với dịch sốt rét bởi vì hệ miễn dịch của họ bị giảm mạnh trong thời kỳ mang thai, người có thai bị sốt rét ác tính dễ bị thiếu máu, hạ đường huyết và suy thai, tử vong thai.

Hậu quả của bệnh sốt rét với phụ nữ có thai là vô cùng kinh khủng. Đối với thai nhi, những người mẹ mắc sốt rét sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai, đẻ non, nhiễm trùng hậu sản sau sảy thai, sinh ra trẻ có cân nặng sơ sinh thấp, chậm phát triển trong giai đoạn đầu. Trẻ sinh ra thấp cân là một nguyên nhân dẫn đến tử vong ở trẻ sơ sinh. Hiện nay, các phương pháp tiếp cận mới đưa ra đang đem tới hi vọng giảm gánh nặng do bệnh sốt rét tác động đến phụ nữ mang thai và cải thiện sức khỏe của bà mẹ và trẻ em.

Khi bị sốt rét, thai phụ cũng dễ bị bội nhiễm các vi khuẩn khác (viêm phổi, viêm màng não, viêm đường tiết niệu); khi sinh dễ bị phù phổi cấp, suy tim; có thể gây nhiễm sốt rét cho trẻ từ trong bào thai (sốt rét bẩm sinh)…

Người có thai bị sốt rét dễ bị sảy thai, suy thai, đẻ non, đó là hậu quả tiến triển xấu của bản thân bệnh chứ không phải do dùng thuốc. Thai phụ cần biết rõ điều này, yên tâm điều trị, lường trước, xử lý kịp thời biến cố, tránh những thắc mắc không đúng khi biến cố xảy ra trùng hợp với thời gian dùng thuốc.

Điều trị sốt rét ở phụ nữ có thai là điều vô cùng cấp bách. Khi sản phụ chưa chuyển dạ, cần điều trị nội khoa, hồi sức chống choáng và chưa cần can thiệp chuyên khoa phụ sản, mà chỉ cần cho thêm thuốc hạ sốt tránh cơn gò tử cung. Khi dấu hiệu chuyện dạ, phải phá ối sớm để tiến hành cuộc phẫu thuật đưa thai nhi ra. Lúc ngôi thai đã lọt, đủ điều kiện nên hỗ trợ Forceps lấy thai; hạn chế chỉ định mổ lấy thai nếu không có chỉ định cần thiết. Theo dõi sản phụ 24/24 giờ để đề phòng chảy máu sau đẻ vì có thể rối loạn chức năng đông máu và cần chuẩn bị máu tươi đồng nhóm, Fibrinogen, Hemocaprol, E.A.C.A (Epsilon Amino Caproid Acid) để xử trí cho sản phụ.

Riêng đối với phụ nữ có thai, nguyên tắc điều trị bệnh sốt rét là vô cùng quan trọng, nếu không cẩn thận có thể dẫn đến cái chết không đáng có của thai nhi.

Điều trị sớm, đúng và đủ liều: Điều trị cắt sơn sốt rét kết hợp chống lây lan đối với sốt rét do p.falciparum và điều trị tiệt căn (sốt rét do P.vivax P.ovale). Các trường hợp do p.falciparum không được dùng một thuốc sốt rét đơn thuần, phải điều trị thuốc phối hợp để hạn chế kháng thuốc và tăng hiệu lực. Điều trị thuốc sốt rét đặc hiệu kết hợp với điều trị hỗ trợ và nâng cao thể trạng: Các trường hợp sốt rét ác tính phải chuyển về đơn vị hồi sức cấp cứu của bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, theo dõi chặt chẽ và hồi sức tích cực.

Phụ nữ mang tahi hay bị thiếu máu, hạ đường huyết, phù phổi cấp, dễ chuyển sang thành sốt rét ác tính, vì vậy phải điều trị nhanh chóng. Để đối phó với sốt rét ác tính, phụ nữ có thai khi bị sốt rét ác tính dễ sảy thay, đẻ non, thai chết lưu và tử vong. Do đó cần điều trị tích cực diệt ký sinh trùng sốt rét và kết hợp điều trị triệu chứng, biến chứng. Ngoài ra, điều trị hỗ trợ sốt cao, hạ nhiệt cắt cơn co giật xử lý sốc, hạ đường huyết, xử lý đái huyết cầu tố. Sau sinh, cần chuẩn bị các phương tiện và chế độ chăm sóc trẻ sơ sinh tốt vì mẹ bị sốt rét ác tính sơ sinh thường non tháng, suy dinh dưỡng, hoặc bị chết lưu.

Sốt rét ác tính thường đe dọa sức khỏe, tính mạng sản phụ và trẻ sơ sinh. Các tai biến sản khoa như chảy máu, nhiễm khuẩn cũng thường xảy ra. Cho nên cần chuyển đến tuyến trên có điều kiện điều trị, hồi sức tốt mới mong giảm thấp tỷ lệ tử vong cho sản phụ và sơ sinh, góp phần cùng ngành y tế chăm sóc, quản lý bà mẹ an toàn.

Theo vnkhampha.com

6-hieu-nham-chet-nguoi-ve-benh-sot-xuat-huyet

Bệnh Sốt rét do muỗi Anopheles gây ra nguy hiểm như thế nào?

Bệnh sốt rét là gì?

Sốt rét hay còn có tên gọi khác là ngã nước, là chứng bệnh gây ra bởi ký sinh trùng Llasmodium. Nguyên nhân lây truyền từ người này sang người khác chính là muỗi Anopheles. Bệnh sốt rét xuất hiện phổ biến ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Mỹ, châu Á và châu Phi. Ước tính trung bình mỗi năm có khoảng 515 triệu người bị mắc bệnh, từ 1 – 3 triệu người tử vong. Đa số trẻ em ở khu vực phía nam sa mạc Sahara, châu Phi bị mắc bệnh sốt rét. Có thời điểm sốt rét trở thành đại dịch mà thế giới không thể kiểm soát nổi. Thêm nữa 90% số ca tử vong thường xảy ra tại châu Phi. Sốt rét thường đi cùng với nghèo, đói, lạc hậu và là một đại dịch cản trở sự phát triển của nền kinh tế.

Dịch sốt rét là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất và là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Bệnh gây ra bởi ký sinh trùng protozoa thuộc chi Plasmodium. Chi này có bốn loài làm con người nhiễm bệnh. Nguy hiểm hơn cả là Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax. Hai loài còn lại (Plasmodium ovale, Plasmodium malariae) cũng gây bệnh nhưng ít tử vong hơn. Nhóm các loài Plasmodium gây bệnh ở người thường được gọi chung là ký sinh trùng sốt rét. Riêng loài P. knowlesi, phổ biến ở Đông Nam Á, gây bệnh sốt rét ở khỉ nhưng cũng có thể gây nhiễm trùng nặng ở người.

Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt thành cơn với 3 giai đoạn: Rét, nóng và vã mồ hôi; sốt có chu kỳ và thường kèm theo thiếu máu, lách to. Bệnh cảnh lâm sàng của sốt rét rất đa dạng với các thể: Mang ký sinh trùng lạnh, thể tiên phát, tái phát, thông thường điển hình, sốt rét ác tính, sốt rét đái huyết cầu tố. Đôi khi triệu chứng này tái phát mỗi 48 đến 72 giờ, tùy theo loại ký sinh trùng và thời gian nhiễm bệnh.

Nói thêm về ký sinh trùng sốt rét: chúng có tên khoa học là Plasmodium, là một loại ký sinh trùng đơn bào thuộc lớp bào tử. Ký sinh trùng sốt rét thường ký sinh bắt buộc trên cơ thể sinh vật để tồn tại và phát triển. Chi Plasmodium fđược Ettore Marchiasfava và Angelo Cell miêu tả năm 1885. Hiện tại khoa học đã tìm ra 200 loài của chi này và các loài mới vẫn đang dần dần được miêu tả. Trong số trên 200 loài đã biết của chi Plasmodium thì ít nhất 11 loài ký sinh trên người. Các loài khác ký sinh trên các động vật khác, bao gồm khỉ, động vật gặm nhấm, chim và bò sát. Các sinh vật ký sinh này luôn luôn có 2 vật chủ trong vòng đời của chúng: một vật chủ muỗi và một vật chủ là động vật có xương sống.

Ở ngoài cơ thể, ký sinh trùng sốt rét cần có phương pháp nuôi cấy đặc biệt hoặc được giữ ở nhiệt độ lạnh để duy trì sự sống. Khi vào đến cơ thể người chúng ký sinh nội tế bào, cụ thể là ở tế bào gan hoặc hồng câu. Chúng cũng chính là nguyên nhân gây ra bệnh sốt rét. Đời sống của ký sinh trùng sốt rét ngắn nhưng chúng sinh sản nhanh và nhiều do vậy tồn tại lâu dài trong cơ thể[3]. Plasmodium có 2 phương thức sinh sản, sinh sản vô tính thực hiện ở vật chủ phụ (người hoặc những động vật khác) và sinh sản hữu tính ở vật chủ chính là muỗi Anopheles. Plasmodium có cấu tạo đơn giản, cơ thể gồm thành phần chính là nhân, nguyên sinh chất và một số thành phần khác, chúng không có không bào nên mọi hoạt động di dưỡng đều thực hiện qua màng tế bào, do không có bộ phận di động nên Plasmodium thường phải ký sinh cố định.

Có nhiều loại ký sinh trùng sốt rét ký sinh ở cơ thể người, chúng có hình thái và khu vực sống khác nhau, một số loại chính như: P.falciparum: Gặp nhiều ở vùng nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình năm tương đối cao. Loại ký sinh trùng sốt rét này hay gặp ở châu Á (đặc biệt là vùng Đông Nam Á), châu Phi, châu Mỹ La Tinh và ít gặp hơn ở châu Âu. Hiếm gặp P.falciparum ở nơi có bình độ cao; P.vivax: Gặp nhiều ở châu Âu, còn châu Á và châu Phi chỉ gặp nhiều ở một số nơi; P.malariae: Xuất hiện nhiều ở châu Âu, châu Phi, ít hơn ở châu Mỹ, còn châu Á rất hiếm gặp; P.ovale: Nói chung hiếm gặp trên thế giới, chủ yếu gặp ở trung tâm châu Phi.

Theo các cơ sở phân loại bệnh sốt rét cảu Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam thì sốt rét được chia thành 2 mức độ lâm sàng: sốt rét thông thường (rốt rét chưa có biến chứng) và sốt rét ác tính (sốt rét có biến chứng). Ký sinh trùng sốt rét đi vào cơ thể người theo 3 con đường, thứ nhất là do muỗi truyền (đây là con đường phổ thông nhất), con đường thứ 2 là truyền qua máu, cuối cùng là truyền qua nhau thai. Ngoài ra những người tiêm chích ma túy dùng chung bơm kim tiêm cũng có thể dễ dàng mắc phải căn bệnh này.

Sốt rét lây lan rất nhanh, vì chúng là động vật nguyên sinh do muỗi cái Anopheles chính vào máu người, nên chúng chúng tìm đường chạy vào tế bào gan của người nhiễm bệnh và sinh sôi nảy nở ở đây. Khi một tế bào gan bị vỡ, ký sinh trùng thoát ra, xâm nhập tế bào hồng cầu và tiếp tục sinh sôi nảy nở ở đấy. Khi một tế bào hồng cầu bị vỡ, ký sinh trùng thoát ra và tiếp tục xâm nhập vào các tế bào hồng cầu khác. Chu kỳ xâm nhập vào hồng cầu, rồi hồng cầu bị vỡ cứ tiếp diễn liên tục. Mỗi khi hồng cầu vỡ, thường thì người bệnh có những triệu chứng sốt.

Biểu hiện và triệu chứng

Các biểu hiện và triệu chứng của bệnh sốt rét đặc biệt bắt đầu thể hiện từ ngày thứ 8 đến 25 sau khi nhiễm. Tuy nhiên, các triệu chứng có thể thể hiện muộn hơn so với những người sử dụng thuốc chống sốt rét. Biểu hiện chứng ban đầu của bệnh có tất cả các loại là các triệu chứng giống cảm cúm, và có thể tương tự như các trường hợp khác như nhiễm trùng, viêm ruột và bệnh do virus.

Các triệu chứng điển hình của bệnh sốt rét là kịch phát, đó là sự xuất hiện theo chu kỳ của cơn lạnh đột ngột sau đó run rẩy và sau đó sốt và đổ mồ hôi, xảy ra cứ mỗi hai ngày đối với nhiễm trùng loài P. vivax và P. ovale, và cứ ba ngày đối với nhiễm trùng P. malariae. Nhiễm trùng P. falciparum có thể gây sốt tái phát mỗi 36-48 giờ hoặc sốt ít rõ ràng hơn và gần như liên tục. Sốt rét nghiêm trọng thường gây ra bởi loài P. falciparum. Các triệu chứng của sốt rét do vi trùng falciparium phát triển 9–30 ngày sau khi nhiễm. Những người bị sốt rét thể não thường thể hiện các triệu chứng thần kinh như hành vi bất thường, run giật nhãn cầu, conjugate gaze palsy, opisthotonus hoặc hôn mê.

Hơn nữa, triệu chứng của bệnh sốt rét có thể nặng, nhẹ tùy thuộc vào cơ địa và tình trạng miễn nhiễm của người bệnh và phân ra thành các thời kỳ. Bệnh sốt rét ở thời kỳ ủ bệnh, đây là thời gian kéo dài từ 9 đến 30 ngày có thể thay đổi tùy theo mức độ nặng hay nhẹ và sự khác nhau của từng loại ký sinh sinh trùng sốt rét. Đến thời kỳ phát bệnh, giai đoạn đầu thời kỳ phát bệnh sốt rét thường có biểu hiện của người bệnh giai đoạn đoạn này là người bệnh bị đau mỏi các khớp, cơ, người có biểu hiện gai rét, tiếp theo người bệnh bị sốt cao có thể lên đến 39-40oC. Giai đoạn 2 tiếp theo của thời kỳ phát bệnh sốt rét : thời gian kéo dài sau khoảng 2 tuần, người bệnh có biểu hiện bị sốt rét, sốt nóng diễn ra liên tục theo chu kỳ và thường sốt kéo dài từ 6-12h kèm theo triệu chứng người vã mồ hôi, suy nhược, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi…. Với những người bị sốt rét thường xuyên sẽ kèm theo các triệu chứng như thiếu máu mãn tính với các biểu hiện dễ nhìn thấy như chóng mặt, da xanh, suy kiệt. Bệnh sốt rét thời kỳ lui bệnh, người bệnh không còn bất kỳ một biểu hiện nào của 2 thời kỳ trên và ký sinh trùng trong cơ thể người bệnh được điều trị triệt để. Với những người thường xuyên mắc bệnh sốt rét thì cần phải theo dõi người bệnh trong vài năm để điều trị cho đến khi không còn xuất hiện bất kỳ một ký sinh trùng nào trong cơ thể người bệnh nữa.

Sốt rét có hai loại là sốt rét lành tính và sốt rét ác tính. Bệnh sốt rét lành tính thường nhẹ hơn và tương đối dễ đối phó. Bệnh sốt rét ác tính rất nghiêm trọng và đôi khi có thể gây tử vong.

Sốt rét lành tính, có tên khoa học là Benign malaria, triệu chứng phổ biến nhất của bệnh chính là sốt cao. Tuy nhiên, không sốt không có nghĩa là không bị sốt rét. Các triệu chứng khác của bệnh như nhức đâu, đau cơ, đau bụng, ho, cảm thấy mệt mỏi. Trẻ e, có thêm biểu hiện tiêu chảy và ói mửa. Nếu sử dụng thuốc phòng chống sốt rét thì có thể có thêm các triệu chứng khác nhau như đau dạ dày đau lưn. Cơn sốt thường kéo dài từ 1 – 2 ngày sau đó có các triệu chứng đầu tiên.

bệnh sốt rét ác tính có tên khoa học Malignant malaria, gây ra bởi Plasmodium falciparum. Sốt rét ác tính thường bắt đầu với các triệu chứng tương tự sốt rét lành tính, nhưng thường dẫn đến các biến chứng nặng hơn. Chẳng hạn nhưu thiếu máu, các vấn đề hô hấp, suy gan, suy thận, số. Sốt rét ác tính có thể ảnh hưởng đến não bộ và hệ thần kinh trung ương mà thậm chí có thể dẫn đến tử vong.

Khi các ký sinh sốt rét đi vào dòng máu, chúng sẽ đi đến gan, nơi chúng tăng lên gấp nhiều lần. Cứ mỗi vài ngày, hàng ngàn ký sinh lại được thoát ra từ gan vào máu, nơi chúng phá hủy các tế bào hồng cầu. Một số ký sinh vẫn ở lại gan, tiếp tục sinh sôi nảy nở và phóng thích nhiều ký sinh hơn nữa vào máu sau mỗi vài ngày.

Vòng đời, chu kỳ của các loại ký sinh trùng sốt rét ký sinh ở người

Trong vòng đời của ký sinh trùng sốt rét, mỗi con muỗi anopheles (vật chủ trung gian truyền bệnh) truyền một dạng lây nhiễm di động (được gọi chung là thoi trùng) vào động vật chủ có xương sống như con người (vật chủ thứ 2), hoạt động này có vai trò là một vec-tơ truyền bệnh. Một số sporozoite di chuyển thông qua các mạch máu để vào trong các tế bào gan (hepatocyte), tại đây chúng bắt đầu sinh sản vô tính (mô schizogony) tạo ra hàng ngàn merozoite. Các merozoite này lây nhiễm các hồng cầu mới và bắt đầu chu trình nhân bản vô tính, chúng tạo ra 8 – 24 merozoite lây nhiễm mới, lúc này các tế bào mới ra và chu kỳ lây nhiễm các tế bào mới bắt đầu.

Chu kỳ của các loại Plasmodium ký sinh ở người, có 4 loại ký sinh trùng sốt rét trên tuy có khác nhau về hình thái học nhưng diễn biến chu kỳ ở người và muỗi truyền bệnh tương tự nhau, gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn sinh sản và phát triển vô tính trong cơ thể người; Giai đoạn sinh sản hữu tính ở muỗi Anopheles truyền bệnh.

Giai đoạn sinh sản vô tính trong cơ thể người chia làm hai thời kỳ, thời kỳ phát triển trong gan và thời kỳ sinh sản vô tính trong hồng cầu. Quá trình cụ thể như sau: muỗi Anopheles mang mầm bệnh (thoa trùng) đốt người, thoa trùng từ nước bọt của muỗi truyền vào máu ngoại biên của người. Thoa trùng chủ động tìm đường xâm nhập vào gan, vì tại giai đoạn đó máu không phải là môi trường thích hợp cho thoa trùng tồn tại và phát triển, thời gian chúng ở trong máu chỉ dưới 1 giờ đồng hồ.

Thoa trùng xâm nhập tế bào gan và bắt đầu phân chia, đến một lượng nhất định làm tế bào gan bị vỡ ra giải phóng những ký sinh trùng thế hệ mới, đây là giai đoạn phát triển của nhiều thoa trùng. Từ gan vào máu, ký sinh trùng xâm nhập hồng cầu, chúng sinh sản vô tính tại đây đến mức độ đầy đủ làm vỡ hồng cầu giải phóng ký sinh trùng, đại bộ phận những ký sinh trùng này sẽ lại thâm nhập vào hồng cầu khác để tiếp tục sinh sản vô tính.

Nhưng một số mảnh ký sinh trùng khác trở thành những thể giao bào đực cái, nếu muỗi hút những giao bào này, chúng sẽ phát triển chu kỳ hữu tính ở trong dạ dày của muỗi, nếu không được muỗi hút thì sau một thời gian sẽ bị tiêu hủy. Khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành chu kỳ vô tính trong hồng cầu tùy từng chủng loại Plasmodium, có thể từ 40 đến 72 giờ, do đó trong khoảng thời gian này cơ thể người thường bị sốt rét cách nhật. Sốt rét cách nhật thường xảy ra hàng loạt sau mỗi 24 tiếng đồng hồ. Giao bào đực và cái được muỗi hút vào dạ dày sẽ phát triển thành những giao tử đực và cái, qua sinh sản hữu tính sinh ra thoa trùng. Các thoa trùng đến tập trung trong tuyến nước bọt của muỗi là tiếp tục truyền bệnh cho người khác.

Các thể sốt rét

Sốt rét tiên phát: Là sốt rét được biểu hiện lần đầu tiên ở bệnh nhân, thường gặp ở những người mới vào vùng sốt rét hoặc trẻ nhỏ từ 4 tháng đến 4 tuổi ở trong vùng sốt rét lưu hành. Biểu hiện lâm sàng của sốt rét tiên phát là sốt liên tục 39 – 40 độ C hoặc sốt dao động, chồng cơn (2 – 3 đỉnh sốt trong ngày), hội chứng thiếu máu và lách to ít gặp. Chẩn đoán sốt rét tiên phát tương đối khó, phảI dựa vào dịch tễ và xét nghiệm ký sinh trùng sốt rét

Sốt rét tái phát: Sốt rét tái phát là sốt rét gặp ở những bệnh nhân đã bị nhiễm ký sinh trùng và có sốt rét tiên phát trước đó trên 6 tháng. Sốt rét tái phát gặp ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó nhưng chưa sạch ký sinh trùng sốt rét trong máu (do ký sinh trùng kháng thuốc hoặc điều trị chưu đủ liều) gọi là tái phát gần hoặc sốt rét do P.vivax mà không được dùng thuốc diệt thể ngủ ở trong gan (hypnozoite) gọi là tái phát xa. Đặc điểm của sốt rét tái phát là:

Sốt thành cơn điển hình với 3 giai đoạn và có chu kỳ rõ rệt: Cơn sốt đến đột ngột với rét run kéo dài từ 15 phút đến 1 – 2 giờ, tiếp theo là nóng kéo dài 2 – 4 giờ và nhiệt độ cơ thể lên đỉnh cao 40 – 41 độ C, sau cùng là vã mồ hôi và nhiệt độ giảm dần về bình thường. Ngoài ra, bệnh nhân có biểu hiện rõ các triệu chứng đặc trưng như: Gan, lách sưng to, càng lâu năm thì gan, lách càng to và càng chắc hơn. Thiếu máu là triệu chứng thường gặp nhất là ở những bệnh nhân sốt rét tái phát nhiều lần. Ngoài ra có thể gặp một số triệu chứng khác như : Niêm mạc phớt vàng, tiếng thổi tâm thu nhẹ ở mỏm tim, da xạm, môi thâm.

Sốt rét giai đoạn sơ nhiễm: Là sốt rét trong vòng 6 tháng đầu. Như vậy sốt rét sơ nhiễm bao gồm cả sốt rét tiên phát và sốt rét tái phát trong vòng 6 tháng đầu tiên. Do vậy biểu hiện của sốt rét giai đoạn sơ nhiễm có thể là sốt rét tiên phát hoặc tái phát. Việc điều trị sốt rét hiện nay còn gặp nhiều khó khăn vì ký sinh trùng sốt rét (đặc biệt là P.falciparum) đã kháng lại nhiều thuốc chống sốt rét. Hơn nữa, Việt Nam có khoảng 35 triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành (trong đó có 15 triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành nặng), nên muốn điều trị sốt rét có hiệu quả phải triệt để tuân thủ phác đồ điều trị của chương trình phòng chống sốt rét quốc gia.

Sức tàn phá kinh khủng của dịch bệnh sốt rét đó là, nó khiến não bị tổn thương, khó thởi làm tích lũy chất lỏng trong phổi, suy nhiều cơ quan quan trọng trong cơ thể như gan, lá lách, gây thiếu máu nghiêm trọng, làm cho lượng đường huyết thấp, nghiêm trọng nhất là dẫn đến tử vong.

Theo vnkhampha.com