6-hieu-nham-chet-nguoi-ve-benh-sot-xuat-huyet

Bệnh Sốt rét do muỗi Anopheles gây ra nguy hiểm như thế nào?

Bệnh sốt rét là gì?

Sốt rét hay còn có tên gọi khác là ngã nước, là chứng bệnh gây ra bởi ký sinh trùng Llasmodium. Nguyên nhân lây truyền từ người này sang người khác chính là muỗi Anopheles. Bệnh sốt rét xuất hiện phổ biến ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Mỹ, châu Á và châu Phi. Ước tính trung bình mỗi năm có khoảng 515 triệu người bị mắc bệnh, từ 1 – 3 triệu người tử vong. Đa số trẻ em ở khu vực phía nam sa mạc Sahara, châu Phi bị mắc bệnh sốt rét. Có thời điểm sốt rét trở thành đại dịch mà thế giới không thể kiểm soát nổi. Thêm nữa 90% số ca tử vong thường xảy ra tại châu Phi. Sốt rét thường đi cùng với nghèo, đói, lạc hậu và là một đại dịch cản trở sự phát triển của nền kinh tế.

Dịch sốt rét là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất và là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Bệnh gây ra bởi ký sinh trùng protozoa thuộc chi Plasmodium. Chi này có bốn loài làm con người nhiễm bệnh. Nguy hiểm hơn cả là Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax. Hai loài còn lại (Plasmodium ovale, Plasmodium malariae) cũng gây bệnh nhưng ít tử vong hơn. Nhóm các loài Plasmodium gây bệnh ở người thường được gọi chung là ký sinh trùng sốt rét. Riêng loài P. knowlesi, phổ biến ở Đông Nam Á, gây bệnh sốt rét ở khỉ nhưng cũng có thể gây nhiễm trùng nặng ở người.

Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt thành cơn với 3 giai đoạn: Rét, nóng và vã mồ hôi; sốt có chu kỳ và thường kèm theo thiếu máu, lách to. Bệnh cảnh lâm sàng của sốt rét rất đa dạng với các thể: Mang ký sinh trùng lạnh, thể tiên phát, tái phát, thông thường điển hình, sốt rét ác tính, sốt rét đái huyết cầu tố. Đôi khi triệu chứng này tái phát mỗi 48 đến 72 giờ, tùy theo loại ký sinh trùng và thời gian nhiễm bệnh.

Nói thêm về ký sinh trùng sốt rét: chúng có tên khoa học là Plasmodium, là một loại ký sinh trùng đơn bào thuộc lớp bào tử. Ký sinh trùng sốt rét thường ký sinh bắt buộc trên cơ thể sinh vật để tồn tại và phát triển. Chi Plasmodium fđược Ettore Marchiasfava và Angelo Cell miêu tả năm 1885. Hiện tại khoa học đã tìm ra 200 loài của chi này và các loài mới vẫn đang dần dần được miêu tả. Trong số trên 200 loài đã biết của chi Plasmodium thì ít nhất 11 loài ký sinh trên người. Các loài khác ký sinh trên các động vật khác, bao gồm khỉ, động vật gặm nhấm, chim và bò sát. Các sinh vật ký sinh này luôn luôn có 2 vật chủ trong vòng đời của chúng: một vật chủ muỗi và một vật chủ là động vật có xương sống.

Ở ngoài cơ thể, ký sinh trùng sốt rét cần có phương pháp nuôi cấy đặc biệt hoặc được giữ ở nhiệt độ lạnh để duy trì sự sống. Khi vào đến cơ thể người chúng ký sinh nội tế bào, cụ thể là ở tế bào gan hoặc hồng câu. Chúng cũng chính là nguyên nhân gây ra bệnh sốt rét. Đời sống của ký sinh trùng sốt rét ngắn nhưng chúng sinh sản nhanh và nhiều do vậy tồn tại lâu dài trong cơ thể[3]. Plasmodium có 2 phương thức sinh sản, sinh sản vô tính thực hiện ở vật chủ phụ (người hoặc những động vật khác) và sinh sản hữu tính ở vật chủ chính là muỗi Anopheles. Plasmodium có cấu tạo đơn giản, cơ thể gồm thành phần chính là nhân, nguyên sinh chất và một số thành phần khác, chúng không có không bào nên mọi hoạt động di dưỡng đều thực hiện qua màng tế bào, do không có bộ phận di động nên Plasmodium thường phải ký sinh cố định.

Có nhiều loại ký sinh trùng sốt rét ký sinh ở cơ thể người, chúng có hình thái và khu vực sống khác nhau, một số loại chính như: P.falciparum: Gặp nhiều ở vùng nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình năm tương đối cao. Loại ký sinh trùng sốt rét này hay gặp ở châu Á (đặc biệt là vùng Đông Nam Á), châu Phi, châu Mỹ La Tinh và ít gặp hơn ở châu Âu. Hiếm gặp P.falciparum ở nơi có bình độ cao; P.vivax: Gặp nhiều ở châu Âu, còn châu Á và châu Phi chỉ gặp nhiều ở một số nơi; P.malariae: Xuất hiện nhiều ở châu Âu, châu Phi, ít hơn ở châu Mỹ, còn châu Á rất hiếm gặp; P.ovale: Nói chung hiếm gặp trên thế giới, chủ yếu gặp ở trung tâm châu Phi.

Theo các cơ sở phân loại bệnh sốt rét cảu Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam thì sốt rét được chia thành 2 mức độ lâm sàng: sốt rét thông thường (rốt rét chưa có biến chứng) và sốt rét ác tính (sốt rét có biến chứng). Ký sinh trùng sốt rét đi vào cơ thể người theo 3 con đường, thứ nhất là do muỗi truyền (đây là con đường phổ thông nhất), con đường thứ 2 là truyền qua máu, cuối cùng là truyền qua nhau thai. Ngoài ra những người tiêm chích ma túy dùng chung bơm kim tiêm cũng có thể dễ dàng mắc phải căn bệnh này.

Sốt rét lây lan rất nhanh, vì chúng là động vật nguyên sinh do muỗi cái Anopheles chính vào máu người, nên chúng chúng tìm đường chạy vào tế bào gan của người nhiễm bệnh và sinh sôi nảy nở ở đây. Khi một tế bào gan bị vỡ, ký sinh trùng thoát ra, xâm nhập tế bào hồng cầu và tiếp tục sinh sôi nảy nở ở đấy. Khi một tế bào hồng cầu bị vỡ, ký sinh trùng thoát ra và tiếp tục xâm nhập vào các tế bào hồng cầu khác. Chu kỳ xâm nhập vào hồng cầu, rồi hồng cầu bị vỡ cứ tiếp diễn liên tục. Mỗi khi hồng cầu vỡ, thường thì người bệnh có những triệu chứng sốt.

Biểu hiện và triệu chứng

Các biểu hiện và triệu chứng của bệnh sốt rét đặc biệt bắt đầu thể hiện từ ngày thứ 8 đến 25 sau khi nhiễm. Tuy nhiên, các triệu chứng có thể thể hiện muộn hơn so với những người sử dụng thuốc chống sốt rét. Biểu hiện chứng ban đầu của bệnh có tất cả các loại là các triệu chứng giống cảm cúm, và có thể tương tự như các trường hợp khác như nhiễm trùng, viêm ruột và bệnh do virus.

Các triệu chứng điển hình của bệnh sốt rét là kịch phát, đó là sự xuất hiện theo chu kỳ của cơn lạnh đột ngột sau đó run rẩy và sau đó sốt và đổ mồ hôi, xảy ra cứ mỗi hai ngày đối với nhiễm trùng loài P. vivax và P. ovale, và cứ ba ngày đối với nhiễm trùng P. malariae. Nhiễm trùng P. falciparum có thể gây sốt tái phát mỗi 36-48 giờ hoặc sốt ít rõ ràng hơn và gần như liên tục. Sốt rét nghiêm trọng thường gây ra bởi loài P. falciparum. Các triệu chứng của sốt rét do vi trùng falciparium phát triển 9–30 ngày sau khi nhiễm. Những người bị sốt rét thể não thường thể hiện các triệu chứng thần kinh như hành vi bất thường, run giật nhãn cầu, conjugate gaze palsy, opisthotonus hoặc hôn mê.

Hơn nữa, triệu chứng của bệnh sốt rét có thể nặng, nhẹ tùy thuộc vào cơ địa và tình trạng miễn nhiễm của người bệnh và phân ra thành các thời kỳ. Bệnh sốt rét ở thời kỳ ủ bệnh, đây là thời gian kéo dài từ 9 đến 30 ngày có thể thay đổi tùy theo mức độ nặng hay nhẹ và sự khác nhau của từng loại ký sinh sinh trùng sốt rét. Đến thời kỳ phát bệnh, giai đoạn đầu thời kỳ phát bệnh sốt rét thường có biểu hiện của người bệnh giai đoạn đoạn này là người bệnh bị đau mỏi các khớp, cơ, người có biểu hiện gai rét, tiếp theo người bệnh bị sốt cao có thể lên đến 39-40oC. Giai đoạn 2 tiếp theo của thời kỳ phát bệnh sốt rét : thời gian kéo dài sau khoảng 2 tuần, người bệnh có biểu hiện bị sốt rét, sốt nóng diễn ra liên tục theo chu kỳ và thường sốt kéo dài từ 6-12h kèm theo triệu chứng người vã mồ hôi, suy nhược, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi…. Với những người bị sốt rét thường xuyên sẽ kèm theo các triệu chứng như thiếu máu mãn tính với các biểu hiện dễ nhìn thấy như chóng mặt, da xanh, suy kiệt. Bệnh sốt rét thời kỳ lui bệnh, người bệnh không còn bất kỳ một biểu hiện nào của 2 thời kỳ trên và ký sinh trùng trong cơ thể người bệnh được điều trị triệt để. Với những người thường xuyên mắc bệnh sốt rét thì cần phải theo dõi người bệnh trong vài năm để điều trị cho đến khi không còn xuất hiện bất kỳ một ký sinh trùng nào trong cơ thể người bệnh nữa.

Sốt rét có hai loại là sốt rét lành tính và sốt rét ác tính. Bệnh sốt rét lành tính thường nhẹ hơn và tương đối dễ đối phó. Bệnh sốt rét ác tính rất nghiêm trọng và đôi khi có thể gây tử vong.

Sốt rét lành tính, có tên khoa học là Benign malaria, triệu chứng phổ biến nhất của bệnh chính là sốt cao. Tuy nhiên, không sốt không có nghĩa là không bị sốt rét. Các triệu chứng khác của bệnh như nhức đâu, đau cơ, đau bụng, ho, cảm thấy mệt mỏi. Trẻ e, có thêm biểu hiện tiêu chảy và ói mửa. Nếu sử dụng thuốc phòng chống sốt rét thì có thể có thêm các triệu chứng khác nhau như đau dạ dày đau lưn. Cơn sốt thường kéo dài từ 1 – 2 ngày sau đó có các triệu chứng đầu tiên.

bệnh sốt rét ác tính có tên khoa học Malignant malaria, gây ra bởi Plasmodium falciparum. Sốt rét ác tính thường bắt đầu với các triệu chứng tương tự sốt rét lành tính, nhưng thường dẫn đến các biến chứng nặng hơn. Chẳng hạn nhưu thiếu máu, các vấn đề hô hấp, suy gan, suy thận, số. Sốt rét ác tính có thể ảnh hưởng đến não bộ và hệ thần kinh trung ương mà thậm chí có thể dẫn đến tử vong.

Khi các ký sinh sốt rét đi vào dòng máu, chúng sẽ đi đến gan, nơi chúng tăng lên gấp nhiều lần. Cứ mỗi vài ngày, hàng ngàn ký sinh lại được thoát ra từ gan vào máu, nơi chúng phá hủy các tế bào hồng cầu. Một số ký sinh vẫn ở lại gan, tiếp tục sinh sôi nảy nở và phóng thích nhiều ký sinh hơn nữa vào máu sau mỗi vài ngày.

Vòng đời, chu kỳ của các loại ký sinh trùng sốt rét ký sinh ở người

Trong vòng đời của ký sinh trùng sốt rét, mỗi con muỗi anopheles (vật chủ trung gian truyền bệnh) truyền một dạng lây nhiễm di động (được gọi chung là thoi trùng) vào động vật chủ có xương sống như con người (vật chủ thứ 2), hoạt động này có vai trò là một vec-tơ truyền bệnh. Một số sporozoite di chuyển thông qua các mạch máu để vào trong các tế bào gan (hepatocyte), tại đây chúng bắt đầu sinh sản vô tính (mô schizogony) tạo ra hàng ngàn merozoite. Các merozoite này lây nhiễm các hồng cầu mới và bắt đầu chu trình nhân bản vô tính, chúng tạo ra 8 – 24 merozoite lây nhiễm mới, lúc này các tế bào mới ra và chu kỳ lây nhiễm các tế bào mới bắt đầu.

Chu kỳ của các loại Plasmodium ký sinh ở người, có 4 loại ký sinh trùng sốt rét trên tuy có khác nhau về hình thái học nhưng diễn biến chu kỳ ở người và muỗi truyền bệnh tương tự nhau, gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn sinh sản và phát triển vô tính trong cơ thể người; Giai đoạn sinh sản hữu tính ở muỗi Anopheles truyền bệnh.

Giai đoạn sinh sản vô tính trong cơ thể người chia làm hai thời kỳ, thời kỳ phát triển trong gan và thời kỳ sinh sản vô tính trong hồng cầu. Quá trình cụ thể như sau: muỗi Anopheles mang mầm bệnh (thoa trùng) đốt người, thoa trùng từ nước bọt của muỗi truyền vào máu ngoại biên của người. Thoa trùng chủ động tìm đường xâm nhập vào gan, vì tại giai đoạn đó máu không phải là môi trường thích hợp cho thoa trùng tồn tại và phát triển, thời gian chúng ở trong máu chỉ dưới 1 giờ đồng hồ.

Thoa trùng xâm nhập tế bào gan và bắt đầu phân chia, đến một lượng nhất định làm tế bào gan bị vỡ ra giải phóng những ký sinh trùng thế hệ mới, đây là giai đoạn phát triển của nhiều thoa trùng. Từ gan vào máu, ký sinh trùng xâm nhập hồng cầu, chúng sinh sản vô tính tại đây đến mức độ đầy đủ làm vỡ hồng cầu giải phóng ký sinh trùng, đại bộ phận những ký sinh trùng này sẽ lại thâm nhập vào hồng cầu khác để tiếp tục sinh sản vô tính.

Nhưng một số mảnh ký sinh trùng khác trở thành những thể giao bào đực cái, nếu muỗi hút những giao bào này, chúng sẽ phát triển chu kỳ hữu tính ở trong dạ dày của muỗi, nếu không được muỗi hút thì sau một thời gian sẽ bị tiêu hủy. Khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành chu kỳ vô tính trong hồng cầu tùy từng chủng loại Plasmodium, có thể từ 40 đến 72 giờ, do đó trong khoảng thời gian này cơ thể người thường bị sốt rét cách nhật. Sốt rét cách nhật thường xảy ra hàng loạt sau mỗi 24 tiếng đồng hồ. Giao bào đực và cái được muỗi hút vào dạ dày sẽ phát triển thành những giao tử đực và cái, qua sinh sản hữu tính sinh ra thoa trùng. Các thoa trùng đến tập trung trong tuyến nước bọt của muỗi là tiếp tục truyền bệnh cho người khác.

Các thể sốt rét

Sốt rét tiên phát: Là sốt rét được biểu hiện lần đầu tiên ở bệnh nhân, thường gặp ở những người mới vào vùng sốt rét hoặc trẻ nhỏ từ 4 tháng đến 4 tuổi ở trong vùng sốt rét lưu hành. Biểu hiện lâm sàng của sốt rét tiên phát là sốt liên tục 39 – 40 độ C hoặc sốt dao động, chồng cơn (2 – 3 đỉnh sốt trong ngày), hội chứng thiếu máu và lách to ít gặp. Chẩn đoán sốt rét tiên phát tương đối khó, phảI dựa vào dịch tễ và xét nghiệm ký sinh trùng sốt rét

Sốt rét tái phát: Sốt rét tái phát là sốt rét gặp ở những bệnh nhân đã bị nhiễm ký sinh trùng và có sốt rét tiên phát trước đó trên 6 tháng. Sốt rét tái phát gặp ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó nhưng chưa sạch ký sinh trùng sốt rét trong máu (do ký sinh trùng kháng thuốc hoặc điều trị chưu đủ liều) gọi là tái phát gần hoặc sốt rét do P.vivax mà không được dùng thuốc diệt thể ngủ ở trong gan (hypnozoite) gọi là tái phát xa. Đặc điểm của sốt rét tái phát là:

Sốt thành cơn điển hình với 3 giai đoạn và có chu kỳ rõ rệt: Cơn sốt đến đột ngột với rét run kéo dài từ 15 phút đến 1 – 2 giờ, tiếp theo là nóng kéo dài 2 – 4 giờ và nhiệt độ cơ thể lên đỉnh cao 40 – 41 độ C, sau cùng là vã mồ hôi và nhiệt độ giảm dần về bình thường. Ngoài ra, bệnh nhân có biểu hiện rõ các triệu chứng đặc trưng như: Gan, lách sưng to, càng lâu năm thì gan, lách càng to và càng chắc hơn. Thiếu máu là triệu chứng thường gặp nhất là ở những bệnh nhân sốt rét tái phát nhiều lần. Ngoài ra có thể gặp một số triệu chứng khác như : Niêm mạc phớt vàng, tiếng thổi tâm thu nhẹ ở mỏm tim, da xạm, môi thâm.

Sốt rét giai đoạn sơ nhiễm: Là sốt rét trong vòng 6 tháng đầu. Như vậy sốt rét sơ nhiễm bao gồm cả sốt rét tiên phát và sốt rét tái phát trong vòng 6 tháng đầu tiên. Do vậy biểu hiện của sốt rét giai đoạn sơ nhiễm có thể là sốt rét tiên phát hoặc tái phát. Việc điều trị sốt rét hiện nay còn gặp nhiều khó khăn vì ký sinh trùng sốt rét (đặc biệt là P.falciparum) đã kháng lại nhiều thuốc chống sốt rét. Hơn nữa, Việt Nam có khoảng 35 triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành (trong đó có 15 triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành nặng), nên muốn điều trị sốt rét có hiệu quả phải triệt để tuân thủ phác đồ điều trị của chương trình phòng chống sốt rét quốc gia.

Sức tàn phá kinh khủng của dịch bệnh sốt rét đó là, nó khiến não bị tổn thương, khó thởi làm tích lũy chất lỏng trong phổi, suy nhiều cơ quan quan trọng trong cơ thể như gan, lá lách, gây thiếu máu nghiêm trọng, làm cho lượng đường huyết thấp, nghiêm trọng nhất là dẫn đến tử vong.

Theo vnkhampha.com

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *